Toronto
| Toronto | |
|---|---|
| — Thành phố (single-tier) và thủ phủ tỉnh — | |
| City of Toronto | |
| Từ nguyên: Từ tiếng Mohawk tkaronto ('cây trong nước ở đó'), tên gọi của một con kênh giữa Hồ Simcoe và Hồ Couchiching | |
| Khẩu hiệu: Diversity Our Strength[1][2][a] | |
| Vị trí của Toronto tại Ontario##Vị trí của Toronto tại Canada##Vị trí của Toronto tại Bắc Mỹ | |
| Quốc gia | Canada |
| Tỉnh bang | Ontario |
| Vùng | Nam Ontario |
| Thành lập | 27 tháng 8 năm 1793 (với tên gọi York) |
| Hợp nhất | 6 tháng 3 năm 1834 (với tên gọi Toronto) |
| Changed division | 20 tháng 1 năm 1953 (từ York County thành Metropolitan Toronto) |
| Amalgamated | 1 tháng 1 năm 1998 |
| Người sáng lập | John Graves Simcoe |
| Đặt tên theo | Fort Rouillé |
| Communities | |
| Chính quyền | |
| • Kiểu | Single-tier municipality với một chính quyền thị trưởng-hội đồng |
| • Thành phần | Hội đồng Thành phố Toronto |
| • Thị trưởng | Olivia Chow |
| • Phó Thị trưởng luật định | Ausma Malik |
| Diện tích[4][5][6] | |
| • Tổng cộng | 631,10 km2 (24,370 mi2) |
| • Đô thị | 1.829,05 km2 (70,620 mi2) |
| • CMA | 5.902,75 km2 (227,906 mi2) |
| Độ cao cực tiểu | 76,5 m (2,510 ft) |
| Dân số (2021)[4][5][6] | |
| • Tổng cộng | 2,794,356 |
| • Ước tính (2025) | 3,271,830[7] |
| • Thứ hạng | |
| • Mật độ | 4,427,8/km2 (11,468/mi2) |
| • CMA | 6,202,225 (1st) |
| • Vùng | 9,765,188 |
| Tên cư dân | Torontonian |
| GDP (Danh nghĩa, 2022)[8] | |
| • CMA | 522,4 billion CA$ |
| • Bình quân đầu người | 79.249 CA$ |
| Múi giờ | America/Toronto, UTC−5, Múi giờ miền Đông |
| • Mùa hè (DST) | EDT (UTC−04:00) |
| Postal code span | M |
| Mã điện thoại | 416, 647, 437 |
| Thành phố kết nghĩa | Quito |
| Khí hậu | Khí hậu lục địa ẩm mùa hè nóng (Dfa)[b] |
| Website | www |
Toronto[c] là thành phố đông dân nhất tại Canada và là tỉnh lỵ của tỉnh Ontario. Thành phố nằm ở Nam Ontario, tại bờ phía tây bắc của hồ Ontario. Năm 2012, chính quyền Toronto công bố ước tính dân số là 2.791.140, là thành phố đông dân thứ tư tại Bắc Mỹ và là thành phố đông dân nhất trong Chuỗi đô thị Vùng Ngũ Đại Hồ.[13][14] Khu vực đại đô thị thống kê (CMA) có dân số là 5.583.064,[15] và khu vực Đại Toronto (GTA) có dân số là 6.054.191 theo điều tra dân số năm 2011.[16] Toronto nằm tại trung tâm của khu vực Đại Toronto, và của khu vực dân cư đông đúc Golden Horseshoe tại miền Nam Ontario. Dân cư thế giới và quốc tế của thành phố[17] phản ánh vai trò của Toronto là một điểm đến quan trọng của những người nhập cư tới Canada.[18] Toronto là một trong những thành phố đa văn hóa, quốc tế nhất trên thế giới, với khoảng 49% dân số sinh bên ngoài Canada.[17][18][19]
Lịch sử Toronto bắt đầu vào cuối thế kỷ 18 khi Vương thất Anh Quốc mua đất từ người bản địa. Khu định cư được thiết lập tại đây mang tên là York, và được Phó Thống đốc John Graves Simcoe chọn làm thủ đô của Thượng Canada. Thành phố bị cướp phá trong Chiến tranh Hoa Kỳ - Anh Quốc năm 1812. Năm 1834, York trở thành một thành phố và đổi tên sang Toronto. Thành phố bị thiệt hại do hai đại hỏa hoạn vào năm 1849 và 1904. Từ năm 1954, thành phố có những đợt mở rộng ranh giới thông qua sáp nhập các đô thị xung quanh, lần gần đây nhất là vào năm 1998.
Toronto là trung tâm tài chính lớn nhất của Canada, là nơi đặt trụ sở Sở giao dịch chứng khoán Toronto và năm ngân hàng lớn nhất của Canada. Những ngành nghề hàng đầu của thành phố là tài chính, dịch vụ doanh nghiệp, viễn thông, hàng không vũ trụ, giao thông, truyền thông, nghệ thuật, xuất bản, sản xuất phần mềm, nghiên cứu y tế, giáo dục, du lịch và kỹ thuật.[20][21] Toronto được GaWC xếp hạng là một thành phố toàn cầu hạng alpha và đứng hàng đầu thế giới về Chỉ số trung tâm tài chính toàn cầu.[22][23] Toronto cũng luôn được xếp là một trong những thành phố dễ sống nhất theo xếp hạng của Đơn vị tin tức kinh tế học và Điều tra chất lượng sinh hoạt Mercer.[24][25]
Tên gọi
[sửa | sửa mã nguồn]Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Khi những người châu Âu lần đầu đến địa điểm mà nay là Toronto, người Iroquois cư trú tại khu vực lân cận,[26] lúc đó người Iroquois đã thay thế người Wyandot vốn chiếm giữ khu vực trong hàng thế kỷ trước khoảng 1500.[27] Tên gọi Toronto có bắt nguồn từ tkaronto trong tiếng Iroquois, nghĩa là "nơi những cái cây mọc trong nước".[28] Điều này ám chỉ đến phần cực bắc của nơi mà hiện là hồ Simcoe, nơi người Huron trồng cây nhỏ để quây cá. Một tuyến đường chuyển tải từ hồ Ontario đến hồ Huron chạy qua điểm này, khiến tên gọi được sử dụng phổ biến. Trong thập niên 1660, người Iroquois thiết lập hai làng trong khu vực mà nay là Toronto, Ganatsekwyagon bên bờ sông Rouge và Teiaiagon bên bờ sông Humber. Đến năm 1701, người Mississauga thay thế người Iroquois, người Iroquois từ bỏ khu vực Toronto vào cuối Các cuộc chiến tranh Hải ly.[29]

Năm 1750, các thương nhân người Pháp lập nên pháo đài Rouillé tại nơi mà nay là khu vực Triển Lãm, song từ bỏ vào năm 1759.[30] Trong Cách mạng Mỹ, khu vực tiếp nhận một dòng người Anh định cư trung thành với Đế quốc chạy đến các vùng đất hoang ở phía bắc hồ Ontario. Năm 1787, Anh Quốc dàn xếp mua đất với người Mississauga, do đó củng cố trên một phần tư triệu acres (1000 km²) đất tại khu vực Toronto.[31]
Năm 1793, Thống đốc John Graves Simcoe thiết lập đô thị York trên khu định cư sẵn có, đặt tên theo Vương tử Frederick, Công tước xứ York và Albany. Simcoe chọn York để thay thế Newark trong vai trò thủ đô của Thượng Canada,[32] tin rằng địa điểm mới sẽ có khả năng phòng thủ tốt hơn trước khả năng bị Hoa Kỳ tiến công.[33] Pháo đài York được xây dựng tại lối vào cảng tự nhiên của thị trấn, được một bán đảo bãi cát dài bảo vệ.

Năm 1813, trong khuôn khổ Chiến tranh Hoa Kỳ - Anh Quốc, trận York kết thúc với kết quả lực lượng Hoa Kỳ chiếm và cướp bóc thị trấn.[34] Binh sĩ Hoa Kỳ phá hủy hầu hết phái đài York và phóng hỏa tòa nhà nghị viện trong thời gian chiếm đóng. Việc Hoa Kỳ cướp phá York là một động cơ chính khiến quân Anh đốt cháy Washington sau đó. York được hợp nhất tổ chức thành thành phố Toronto vào ngày 6 tháng 3 năm 1834.
Dân số Toronto đương thời chỉ có 9.000, trong đó có những nô lệ da đen chạy trốn, một số người trong số đó do những người trung thành với Đế quốc đưa đến.[35] Chế độ nô lệ bị cấm hoàn toàn tại Thượng Canada vào năm 1834. Chính trị gia cải lương William Lyon Mackenzie trở thành thị trưởng đầu tiên của Toronto và lãnh đạo Nổi dậy Thượng Canada vào năm 1837 nhằm chống chính phủ thực dân Anh Quốc song không thành công. Thành phố phát triển nhanh chóng suốt thời gan còn lại của thế kỷ 19, với vị thế là một điểm đến chính của những người nhập cư tới Canada. Dòng dân nhập cư đáng kể đầu tiên xuất hiện khi nạn đói khoai tây Ireland đưa một lượng lớn người Ireland đến thành phố, một số người trong đó chỉ cư trú tạm thời tại Toronto và hầu hết họ là tín đồ Công giáo La Mã. Đến năm 1851, dân cư sinh tại Ireland trở thành dân tộc đơn lẻ lớn nhất trong thành phố. Những người Ireland nhập cư theo Tin Lành có số lượng ít hơn, cộng đồng này được dân cư người Scotland và Anh cư trú từ trước hoan nghênh, khiến Orange Order có ảnh hưởng đáng kể và kéo dài đối với xã hội Toronto.
Toronto từng hai lần là thủ đô của tỉnh Canada thống nhất: lần đầu từ năm 1849 đến năm 1852 sau bất ổn tại Montréal, và trong giai đoạn 1856–1858.[36] Do là thủ đô của Thượng Canada từ năm 1793, Toronto trở thành tỉnh lị của tỉnh Ontario sau khi tỉnh này được hình thành chính thức vào năm 1867. Do có vị thế là tỉnh lị, thành phố là nơi đặt tòa nhà chính phủ, dinh thự của phó vương đại diện cho quyền lực của vương thất tại Ontario.

Trong thế kỷ 19, một hệ thống cống quy mô lớn được xây dựng, và các phố được chiếu sáng thường xuyên bằng đèn khí. Các tuyến đường sắt đường dài được xây dựng, trong đó một tuyến được hoàn thành vào năm 1854 liên kết Toronto với các hồ thượng trong Ngũ Đại Hồ. Đường sắt xuất hiện làm tăng mạnh số người nhập cư đến, thương nghiệp và công nghiệp, cùng với các thuyền hơi nước và thuyền hai buồm hồ Ontario cập cảng từ trước góp phần biến Toronto trở thành một cửa ngõ lớn kết nối thế giới với vùng nội địa của lục địa Bắc Mỹ. Toronto trở thành trung tâm cất rượu cồn lớn nhất tại Bắc Mỹ; nhà máy cất rượu Gooderham and Worts trở thành nhà máy whiskey lớn nhất thế giới vào thập niên 1860. Phát triển hạ tầng cảng và đường sắt tạo thuận lợi cho xuất khẩu gỗ và nhập khẩu than Pennsylvania. Đại hỏa hoạn năm 1904 phá hủy một phần lớn khu trung tâm Toronto, song thành phố nhanh chóng tái thiết. Đại hỏa hoạn khiến các luật an toàn cháy nổi thêm nghiêm ngặt và phát triển sở cứu hỏa của thành phố.
Bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 cho đến đầu thế kỷ 20, thành phố tiếp nhận các nhóm nhập cư mới, đặc biệt là người Đức, người Pháp, người Ý, và người Do Thái đến từ Đông Ấu. Tiếp nối ngay sau họ là những người Hoa, người Nga, người Ba Lan, và những người nhập cư Đông Âu khác. Giống như người Ireland đến từ trước, nhiều người nhập cư sống trong những khu vực tồi tàn đông đúc. Mặc dù có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, song cho đến thập niên 1920, dân số và tầm quan trọng kinh tế của Toronto tại Canada vẫn đứng thứ hai sau Montréal. Tuy nhiên, đến năm 1934 thì sở giao dịch chứng khoán Toronto trở thành sở giao dịch chứng khoán lớn nhất toàn quốc.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, những người tị nạn hậu quả chiến tranh từ châu Âu và Trung Quốc đến Toronto để tìm kiếm công việc, cũng như các lao động xây dựng, chủ yếu là từ Ý và Bồ Đào Nha. Sau khi bãi bỏ những chính sách nhập cư dựa trên chủng tộc vào cuối thập niên 1960, người nhập cư đến Toronto từ khắp nơi trên thế giới. Dân số Toronto tăng lên trên một triệu vào năm 1951 khi ngoại ô hóa quy mô lớn bắt đầu, và tăng gấp đôi lên hai triệu vào năm 1971. Đến thập niên 1980, Toronto vượt qua Montréal để trở thành thành phố đông dân nhất và trung tâm kinh tế chủ yếu của Canada. Trong thời gian này, một phần là do tính chất bất xác định chính trị do sự nổi lên của phong trào chủ quyền Québec, nhiều công ty quốc gia và đa quốc gia chuyển trụ sở chính của họ ra khỏi Montréal đến Toronto và các thành phố ở miền Tây Canada.[37]
Năm 1954, thành phố Toronto và 12 đô thị xung quanh liên hiệp thành một chính quyền khu vực được gọi là Metropolitan Toronto.[38] Bùng nổ kinh tế hậu chiến dẫn đến phát triển ngoại ô nhanh chóng, và người ta cho là một chiến lược sử dụng đất phối hợp và chia sẻ các dịch vụ sẽ tạo ra hiệu quả lớn hơn cho khu vực. Chính quyền khu vực đô thị bắt đầu quản lý những dịch vụ vượt qua ranh giới các đô thị, trong đó có xa lộ, cảnh sát, nước và giao thông công cộng. Một nửa thế kỷ sau đại hỏa hoạn năm 1904, thành phố lại chịu tai họa khi bão Hazel đem theo gió mạnh và lũ quét. Trong khu vực Toronto có 81 người thiệt mạng và gần 1.900 gia đình bị mất nhà, bão gây thiệt hại kinh tế 25 triệu $.[39]
Năm 1967, bảy đô thị nhỏ nhất của Metropolitan Toronto được hợp nhất với các đô thị lân cận lớn hơn, tạo ra một kết cấu gồm sáu đô thị: đô thị cũ Toronto, East York, Etobicoke, North York, Scarborough, và York. Năm 1998, chính phủ tỉnh Ontario giải thể chính quyền đại đô thị, toàn bộ sáu đô thị được hợp nhất thành một đô thị đơn nhất, hình thành thành phố Toronto hiện nay. Toronto dự kiến tổ chức Đại hội Thể thao liên châu Mỹ vào năm 2015.
Địa lý
[sửa | sửa mã nguồn]
Toronto có diện tích 630 kilômét vuông (243 dặm vuông Anh),[40] khoảng cách bắc-nam tối đa là 21 kilômét (13 mi) và khoảng cách đông-tây tối đa là 43 km (27 mi). Thành phố có 46 kilômét (29 mi) bờ hồ Ontario. Quần đảo Toronto và Port Lands kéo dài vào trong hồ, che chắn phần nào cho cảng Toronto ở phía nam lõi trung tâm đô thị.[41] Ranh giới của Toronto giới hạn bởi là hồ Ontario ở phía nam, sông Etobicoke và tỉnh lộ 427 ở phía tây, đại lộ Steeles ở phía bắc và sông Rouge cùng đường Scarborough-Pickering Townline ở phía đông.
Thành phố bị ba sông cùng nhiều chi lưu của chúng cắt ngang: sông Humber ở cực tây và sông Don ở phía đông khu trung tâm gần cảng Toronto, và sông Rouge tạo thành ranh giới phía đông của thành phố. Cảng Toronto được hình thành một cách tự nhiên nhờ trầm tích tích tụ từ các dòng nước trong hồ tạo nên quần đảo Toronto. Nhiều sông suối chảy từ phía bắc hướng đến hồ bào mòn địa hình thành những vùng khe núi lớn có cây cối rậm rạp, tạo ra các địa điểm lý tưởng để hình thành những công viên và đường tản bộ tiêu khiển. Tuy nhiên, các khe núi cũng gây trở ngại cho thiết kế ô vuông của thành phố, dẫn đến việc nhiều đại lộ kết thúc ở một bên khe núi và tiếp tục ở bên khác. Những khe núi sâu tỏ ra hữu dụng trong việc thoát nước khi có mưa lớn.

Trong kỷ băng hà cuối, phần hạ của Toronto ở bên dưới hồ băng Iroquois. Ngày nay, một loạt vách đứng đánh dấu ranh giới cũ của hồ. Mặc dù có những khe núi sâu, Toronto không có địa hình đối núi đáng kể, song độ cao tăng dần khi ra xa hồ. Độ cao biến đổi từ 75 mét (246 ft) trên mực nước biển tại bờ hồ Ontario đến 209 m (686 ft) trên mực nước biển gần Đại học York ở phần cực bắc của thành phố tại nơi giao cắt giữa phố Keele và đại lộ Steeles.[42] Phần lớn diện tích đất liền bờ hồ hiện nay đối diện với cảng Toronto được lấp đất nhân tạo vào cuối thế kỷ 19, phần lớn Port Lands nằm lân cận cũng là do lấp đất. Quần đảo Toronto nguyên là một mũi đất song một cơn bão vào năm 1858 đã cắt đứt kết nối của nó với đại lục, tạo ra một kênh mà sau này được các tàu sử dụng để tiếp cận bến tàu.
Khí hậu
[sửa | sửa mã nguồn]Toronto có khí hậu lục địa ẩm, với mùa hè ấm, ẩm và mùa đông lạnh. Thành phố trải qua bốn mùa riêng biệt, chênh lệch nhiệt độ giữa các ngày là đáng kể, đặc biệt là khi thời tiết lạnh. Do đô thị hóa và nằm sát hồ, Toronto có chênh lệch nhiệt độ ngày đêm khá thấp. Không gian đô thị đông đúc khiến cho ban đêm ấm hơn quanh năm và trong mùa đông không lạnh như khu vực xung quanh (đặc biệt là ở phía bắc của thành phố); tuy nhiên, thành phố có thể mát hơn đáng kể vào nhiều chiều mùa xuân và đầu hè do ảnh hưởng của gió thổi từ hồ. Những ảnh hưởng thủy vực quy mô nhỏ khác lên khí hậu Toronto gồm có tuyết hiệu ứng hồ, sương mù, và trễ mùa.
Trong mùa đông, Toronto đôi khi bất chợt có nhiệt độ dưới −10 °C (14 °F), thường khiến cảm thấy lạnh hơn do phong hàn. Bão tuyết, thỉnh thoảng kèm với đóng băng và mưa, có thể phá hỏng lịch trình làm việc và lữ hành, tuyết rơi thành đống có thể xuất hiện từ tháng 11 đến giữa tháng 4. Tuy nhiên, cũng có thể xuất hiện những khoản thời gian thời tiết ôn hòa trong hầu hết mùa đông, làm tan những đóng tuyết. Những tháng mùa hè có đặc trưng là thời tiết ẩm kéo dài, nhiệt độ thường dao động trong khoảng 23 đến 31 °C (73 đến 88 °F), nhiệt độ ban ngày thỉnh thoảng vượt quá 35 °C (95 °F) kèm theo độ ẩm cao khiến cảm thấy ngột ngạt. Mùa xuân và mùa thu thường có nhiệt độ ôn hòa hoặc mát, các giai đoạn khô và ẩm xen kẽ.
Toronto có lượng mưa phân bố kha đều trong năm, song mùa hè thường là mùa mưa nhiều nhất, nhất là trong các cơn dông. Có những giai đoạn thời tiết khô, song tình hình hiếm khi giống như hạn hán. Lượng giáng thủy trung bình năm là khoảng 831 mm (32,7 in), với lượng tuyết trung bình năm là khoảng 122 cm (48 in). Toronto có trung bình 2.066 giờ nắng mỗi năm, hay 45% số giờ ban ngày, biến động giữa 28% trong tháng 12 đến 60% trong tháng 7.
| Dữ liệu khí hậu của The Annex, Toronto (1981−2010) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Chỉ số nóng bức cao kỷ lục | 15.7 | 12.2 | 21.7 | 31.6 | 39.8 | 44.5 | 43.0 | 43.8 | 43.8 | 31.2 | 26.1 | 17.7 | 44.5 |
| Cao kỉ lục °C (°F) | 16.1 (61.0) |
14.4 (57.9) |
26.7 (80.1) |
32.2 (90.0) |
34.4 (93.9) |
36.7 (98.1) |
40.6 (105.1) |
38.9 (102.0) |
37.8 (100.0) |
30.0 (86.0) |
23.9 (75.0) |
19.9 (67.8) |
40.6 (105.1) |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | −0.7 (30.7) |
0.4 (32.7) |
4.7 (40.5) |
11.5 (52.7) |
18.4 (65.1) |
23.8 (74.8) |
26.6 (79.9) |
25.5 (77.9) |
21.0 (69.8) |
14.0 (57.2) |
7.5 (45.5) |
2.1 (35.8) |
12.9 (55.2) |
| Trung bình ngày °C (°F) | −3.7 (25.3) |
−2.6 (27.3) |
1.4 (34.5) |
7.9 (46.2) |
14.1 (57.4) |
19.4 (66.9) |
22.3 (72.1) |
21.5 (70.7) |
17.2 (63.0) |
10.7 (51.3) |
4.9 (40.8) |
−0.5 (31.1) |
9.4 (48.9) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | −6.7 (19.9) |
−5.6 (21.9) |
−1.9 (28.6) |
4.1 (39.4) |
9.9 (49.8) |
14.9 (58.8) |
18.0 (64.4) |
17.4 (63.3) |
13.4 (56.1) |
7.4 (45.3) |
2.3 (36.1) |
−3.1 (26.4) |
5.9 (42.6) |
| Thấp kỉ lục °C (°F) | −32.8 (−27.0) |
−31.7 (−25.1) |
−26.7 (−16.1) |
−15 (5) |
−3.9 (25.0) |
−2.2 (28.0) |
3.9 (39.0) |
4.4 (39.9) |
−2.2 (28.0) |
−8.9 (16.0) |
−20.6 (−5.1) |
−30 (−22) |
−32.8 (−27.0) |
| Chỉ số phong hàn thấp kỷ lục | −36.6 | −34.0 | −26.0 | −17.0 | −7.9 | 0 | 0 | 0 | 0 | −7.5 | −17.2 | −33.6 | −36.6 |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 61.5 (2.42) |
55.4 (2.18) |
53.7 (2.11) |
68.0 (2.68) |
82.0 (3.23) |
70.9 (2.79) |
63.9 (2.52) |
81.1 (3.19) |
84.7 (3.33) |
64.4 (2.54) |
84.1 (3.31) |
61.5 (2.42) |
831.1 (32.72) |
| Lượng mưa trung bình mm (inches) | 29.1 (1.15) |
29.7 (1.17) |
33.6 (1.32) |
61.1 (2.41) |
82.0 (3.23) |
70.9 (2.79) |
63.9 (2.52) |
81.1 (3.19) |
84.7 (3.33) |
64.3 (2.53) |
75.4 (2.97) |
38.2 (1.50) |
714.0 (28.11) |
| Lượng tuyết rơi trung bình cm (inches) | 37.2 (14.6) |
27.0 (10.6) |
19.8 (7.8) |
5.0 (2.0) |
0.0 (0.0) |
0.0 (0.0) |
0.0 (0.0) |
0.0 (0.0) |
0.0 (0.0) |
0.1 (0.0) |
8.3 (3.3) |
24.1 (9.5) |
121.5 (47.8) |
| Số ngày giáng thủy trung bình (≥ 0.2 mm) | 15.4 | 11.6 | 12.6 | 12.6 | 12.7 | 11.0 | 10.4 | 10.2 | 11.1 | 11.7 | 13.0 | 13.2 | 145.5 |
| Số ngày mưa trung bình (≥ 0.2 mm) | 5.4 | 4.8 | 7.9 | 11.2 | 12.7 | 11.0 | 10.4 | 10.2 | 11.1 | 11.7 | 10.9 | 7.0 | 114.1 |
| Số ngày tuyết rơi trung bình (≥ 0.2 cm) | 12.0 | 8.7 | 6.5 | 2.2 | 0.0 | 0.0 | 0.0 | 0.0 | 0.0 | 0.08 | 3.1 | 8.4 | 40.9 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 85.9 | 111.3 | 161.0 | 180.0 | 227.7 | 259.6 | 279.6 | 245.6 | 194.4 | 154.3 | 88.9 | 78.1 | 2.066,3 |
| Phần trăm nắng có thể | 29.7 | 37.7 | 43.6 | 44.8 | 50.0 | 56.3 | 59.8 | 56.7 | 51.7 | 45.1 | 30.5 | 28.0 | 44.5 |
| Nguồn: Bộ Môi trường Canada [43] | |||||||||||||
Kinh tế
[sửa | sửa mã nguồn]Toronto là một trung tâm quốc tế về kinh doanh và tài chính, thường được xem là thủ đô tài chính của Canada. Các ngân hàng và các hãng môi giới tập trung cao độ tại Bay Street, tại Financial District. Sở giao dịch chứng khoán Toronto là sở giao dịch chứng khoán lớn thứ bảy trên thế giới theo tư bản hóa thị trường (2006). Năm thể chế tài chính lớn nhất của Canada, được gọi chung là Big Five, có các văn phòng quốc gia tại Toronto.[20]
Thành phố là một trung tâm quan trọng đối với truyền thông, xuất bản, viễn thông, công nghệ thông tin và sản xuất phim; là nơi đặt trụ sở của Bell Media, Rogers Communications, và Torstar. Các công ty nổi bật khác của Canada trong khu vực Đại Toronto gồm có Magna International, Celestica, Manulife Financial, Sun Life Financial, và Hudson's Bay Company, và các công ty và hãng điều hành khách sạn lớn như Four Seasons Hotels và Fairmont Hotels and Resorts.
Mặc dù phần lớn các hoạt động sản xuất trong khu vực diễn ra bên ngoài giới hạn của thành phố, song Toronto thiếp tục là một điểm bán buôn và phân phối của khu vực công nghiệp. Vị trí chiến lược của thành phố khi nằm dọc theo Hành lang thành phố Quebec-Windsor và có các liên kết đường bộ và đường sắt hỗ trợ cho các ngành sản xuất xe mô tô, gang, thép, thực phẩm, máy móc, hóa chất và giấy. Việc hoàn tất hải đạo Saint Lawrence vào năm 1959 khiến các tàu có thể tiếp cận Ngũ Đại Hồ từ Đại Tây Dương.
Nhân khẩu
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Số dân | ±% |
|---|---|---|
| 1834 | 9.252 | — |
| 1841 | 14.249 | +54.0% |
| 1851 | 30.776 | +116.0% |
| 1861 | 44.821 | +45.6% |
| 1871 | 56.092 | +25.1% |
| 1881 | 86.415 | +54.1% |
| 1891 | 144.023 | +66.7% |
| 1901 | 238.080 | +65.3% |
| 1911 | 381.383 | +60.2% |
| 1921 | 521.893 | +36.8% |
| 1931 | 856.955 | +64.2% |
| 1941 | 951.549 | +11.0% |
| 1951 | 1.176.622 | +23.7% |
| 1961 | 1.824.481 | +55.1% |
| 1971 | 2.089.729 | +14.5% |
| 1976 | 2.124.291 | +1.7% |
| 1981 | 2.137.395 | +0.6% |
| 1986 | 2.192.721 | +2.6% |
| 1991 | 2.275.771 | +3.8% |
| 1996 | 2.385.421 | +4.8% |
| 2001 | 2.481.494 | +4.0% |
| 2006 | 2.503.281 | +0.9% |
| 2011 | 2.615.060 | +4.5% |
| 2016 | 2.731.571 | +4.5% |
| 2021 | 2.794.356 | +2.3% |
| Nguồn: [44][45][46][47][48][49] | ||
Theo kết quả điều tra dân số năm 2021, dân số của Toronto là 2.794.356 người sinh sống tại 1.160.892 trong tổng số 1.253.238 nhà ở riêng, tăng 2,3% so với dân số năm 2016 là 2.731.571 người. Diện tích đất của thành phố là 631,1 km2 (243,7 dặm vuông Anh), mật độ dân số là 4.427,8/km2 (11.467,8/sq mi) vào năm 2021.[50]
Theo Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc, Toronto là thành phố có tỷ lệ dân số sinh ở nước ngoài cao thứ hai trên thế giới, sau Miami, Florida. Không có dân tộc hay văn hóa này chiếm ưu thế trong dân số nhập cư của Toronto, khiến nó nằm trong số những thành phố đa văn hóa nhất trên thế giới.[51] Mỗi năm có trên 100.000 người nhập cư đến khu vực Đại Toronto.[52]
Dân tộc
[sửa | sửa mã nguồn]| Dân tộc | 2021[53] | 2016 | 2011 | 2006 | 2001 | |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Dân số | % | Dân số | % | Dân số | % | Dân số | % | Dân số | % | |||||
| Người gốc Âu | 1,201,075 | 43.5% | 1,282,750 | 47.66% | 1,292,365 | 50.17% | 1,300,330 | 52.51% | 1,394,310 | 56.75% | ||||
| Người gốc Nam Á | 385,440 | 13.96% | 338,965 | 12.59% | 317,100 | 12.31% | 298,370 | 12.05% | 253,920 | 10.34% | ||||
| Người gốc Đông Á | 351,625 | 12.73% | 354,510 | 13.17% | 327,930 | 12.73% | 329,260 | 13.3% | 301,060 | 12.25% | ||||
| Người gốc Phi | 265,005 | 9.6% | 239,850 | 8.91% | 218,160 | 8.47% | 208,555 | 8.42% | 204,075 | 8.31% | ||||
| Người gốc Đông Nam Á | 224,260 | 8.12% | 194,360 | 7.22% | 179,270 | 6.96% | 140,050 | 5.66% | 120,330 | 4.9% | ||||
| Người gốc Trung Đông | 111,360 | 4.03% | 96,355 | 3.58% | 79,155 | 3.07% | 65,240 | 2.63% | 59,560 | 2.42% | ||||
| Người gốc Mỹ Latinh | 92,455 | 3.35% | 77,160 | 2.87% | 71,205 | 2.76% | 64,855 | 2.62% | 54,350 | 2.21% | ||||
| Người bản địa | 22,925 | 0.83% | 23,065 | 0.86% | 19,265 | 0.75% | 13,605 | 0.55% | 11,370 | 0.46% | ||||
| Dân tộc khác / người đa chủng tộc | 107,135 | 3.88% | 84,650 | 3.14% | 71,590 | 2.78% | 56,295 | 2.27% | 57,840 | 2.35% | ||||
| Tổng cộng: Không phải gốc Âu hoặc bản địa | 1,537,280 | 55.7% | 1,385,850 | 51.5% | 1,264,410 | 49.1% | 1,162,625 | 47% | 1,062,505 | 42.8% | ||||
| Tổng số lượng phản hồi | 2,761,285 | 98.82% | 2,691,665 | 98.54% | 2,576,025 | 98.51% | 2,476,565 | 98.93% | 2,456,805 | 99.01% | ||||
| Tổng dân số | 2,794,356 | 100% | 2,731,571 | 100% | 2,615,060 | 100% | 2,503,281 | 100% | 2,481,494 | 100% | ||||
| Ghi chú: Số lượng tổng cộng vượt 100% vì một người có thể chọn hơn 1 dân tộc | ||||||||||||||
Tôn giáo
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 2011, 54,1% dân số Toronto theo Kitô giáo, là tôn giáo lớn nhất tại thành phố. 28,2% dân số là tín đồ Công giáo, tiếp đến là Tin Lành (11,9%), Chính thống giáo (4,3%), và những hệ phái Kitô giáo khác (9,7%). Thành phố có một số lượng đáng kể các tín đồ phong trào Giám Lý, thỉnh thoảng được gọi là Roma của phong trào Giám lý. Những tôn giáo khác tại thành phố gồm có Hồi giáo (8,2%), Ấn Độ giáo (5,6%), Do Thái giáo (3,8%), Phật giáo (2,7%), và Sikh giáo (0,8%). 24,2% dân số không tôn giáo.[54]
Tiếng Anh là ngôn ngữ chiếm ưu thế trong dân cư Toronto, nhưng nhiều ngôn ngữ khác có số lượng người nói bản ngữ ở mức đáng kể.[55] Các phương ngôn tiếng Hoa và tiếng Ý là những ngôn ngữ được nói phổ biến thứ nhì và thứ ba trong công việc.[56][57] Dịch vụ khẩn cấp 9-1-1 của thành phố được trang bị để đáp ứng trên 150 ngôn ngữ.[58]
Giáo dục
[sửa | sửa mã nguồn]
Đại học Toronto (UT), thành lập năm 1827, là đại học xưa nhất của tỉnh bang Ontario và là viện nghiên cứu công lập hàng đầu ở đây. UT còn dẫn đầu thế giới về nghiên cứu y sinh và sở hữu hệ thống thư viện lớn thứ ba ở Bắc Mỹ, chỉ sau Đại học Harvard và Đại học Yale. Ngoài ra, Đại học York ở phía bắc Toronto cũng sở hữu một thư viện luật lớn nhất trong Khối Thịnh vượng chung Anh. Thành phố này cũng là quê hương của các Đại học Ryerson, Cao đẳng Mỹ thuật và Thiết kế Ontario và Đại học Guelph-Humber.
Có năm trường cao đẳng cộng đồng có cấp phát văn bằng ở Toronto là: Cao đẳng Seneca, Cao đẳng Humber, Cao đẳng Centennial, Cao đẳng Sheridan và Cao đẳng George Brown. Ở thành phố Oshawa—nằm gần đó, được xem là một phần của Vùng Đại Toronto—có trường Cao đẳng Durham và Đại học Viện Công nghệ Ontario (University of Ontario Institute of Technology).
Thư viện Công cộng Toronto là một hệ thống thư viện lớn nhất Canada, gồm có 99 chi nhánh với hơn 11 triệu mục.[59]
Giao thông
[sửa | sửa mã nguồn]
Toronto có các mạng lưới đường bộ, đường sắt và hàng không tập trung ở Nam Ontario. Có nhiều hình thức giao thông trong thành phố Toronto, bao gồm đường cao tốc và giao thông công cộng. Toronto cũng có một mạng lưới đường dành cho xe đạp rộng khắp thành phố.
Giao thông công cộng
[sửa | sửa mã nguồn]Hệ thống giao thông công cộng chính của Toronto được vận hành bởi Ủy ban Giao thông Toronto (TTC). Trụ cột quan trọng của mạng lưới giao thông công cộng là hệ thống tàu điện ngầm Toronto, bao gồm ba tuyến vận chuyển nhanh bằng đường sắt chạy qua thành phố. Tuyến tàu điện ngầm nhẹ cũng tồn tại, phục vụ riêng cho quận phía đông của Scarborough, nhưng một cuộc thảo luận đang được tiến hành để thay thế nó bằng một tuyến đường sắt nặng.
TTC cũng vận hành một mạng lưới xe buýt và xe điện rộng khắp, với tuyến sau phục vụ tại trung tâm thành phố và xe buýt cung cấp dịch vụ cho nhiều nơi trong thành phố không được phục vụ bởi mạng lưới tàu điện ngầm thưa thớt. Xe buýt và xe điện TTC sử dụng cùng một hệ thống giá vé như tàu điện ngầm, và nhiều ga tàu điện ngầm cung cấp một khu vực trả tiền vé để chuyển giữa xe lửa và xe mặt nước.
Đã có nhiều kế hoạch mở rộng tàu điện ngầm và triển khai các tuyến đường sắt nhẹ, nhưng nhiều nỗ lực đã bị cản trở bởi những lo ngại về ngân sách. Kể từ tháng 7 năm 2011, công việc duy nhất liên quan đến tàu điện ngầm là tàu điện ngầm Spadina (tuyến 1) mở rộng về phía bắc của ga Sheppard West (tên trước đây là Downsview) đến Trung tâm Vaughan Metropolitan ở Vaughan, ngoại ô phía bắc Toronto. Đến tháng 11 năm 2011, việc xây dựng trên Tuyến 5 Eglinton bắt đầu. Tuyến 5 dự kiến hoàn thành vào năm 2021. Năm 2015, chính quyền thành phố Ontario hứa sẽ tài trợ cho Tuyến 6 Finch West, dự kiến hoàn thành vào năm 2023.
Sân bay
[sửa | sửa mã nguồn]Được mệnh danh là sân bay bận rộn nhất Canada, Sân bay Quốc tế Toronto Pearson (YYZ) nằm giữa ranh giới phía tây thành phố Toronto với thành phố ngoại ô Mississauga. Sân bay bắt đầu chuyên chở hành khách vào tháng 6 năm 2015.
Tội phạm
[sửa | sửa mã nguồn]Với tỷ lệ tội phạm rất thấp, Toronto là một trong những thành phố an toàn nhất ở Bắc Mỹ. Chẳng hạn, năm 2007, tỷ lệ giết người ở Toronto là 3,3 trên 100.000 người, so với Atlanta (19,7), Boston (10.3), Los Angeles (10.0), Thành phố New York (6.3), Vancouver (3.1) và Montreal (2.6). Tỷ lệ trộm cướp của Toronto cũng ở mức thấp, với 207,1 vụ cướp trên 100.000 dân, so với Los Angeles (348,5), Vancouver (266,2), Thành phố New York (265,9) và Montreal (235,3). Toronto cũng có tỷ lệ trộm cắp xe tương đương với một số thành phố của Hoa Kỳ.
Thành phố kết nghĩa
[sửa | sửa mã nguồn]- Các thành phố cộng tác
- Các thành phố bằng hữu
- Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam (2006)[60]
- Kyiv, Ukraina (1992)[60]
- Quito, Ecuador (2006)[60]
- Rio de Janeiro, Brazil (2015)[60]
- Sagamihara, Nhật Bản (1991)[60]
- Warsaw, Ba Lan (1990)[60]
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ The motto is typically rendered without punctuation, while the city's coat of arms uses typographical bullets to space the words used in the motto. However, some sources from the municipal government of Toronto use punctuation to describe the motto as "Diversity, Our Strength."[3]
- ↑ Mùa hè ấm (Dfb) trước biến đổi khí hậu
- ↑ /təˈrɒntoʊ/ ⓘ tə-RON-toh;[9] địa phương [təˈɹɒnoʊ] tə-RON-oh, also [ˈtɹɒnoʊ] TRON-oh[10][11][12]
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Toronto, City of (2020). "History of City Symbols". www.toronto.ca. City of Toronto. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2020.
- ↑ Harzig, Christiane; Juteau, Danielle; Schmitt, Irina (2006). The Social Construction of Diversity: Recasting the Master Narrative of Industrial Nations. Berghahn Books. tr. 310. ISBN 978-1-57181-376-3.
In reflecting and capturing this sense of the city, one of the first actions of the newly amalgamated Toronto City Council in 1998 was to adopt "Diversity Our Strength" as its official motto.
- ↑ City of Toronto Government (ngày 18 tháng 8 năm 2017). "Equity, Diversity & Inclusion". City of Toronto. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2020.
- 1 2 "Population and dwelling counts, for Canada, provinces and territories, and census subdivisions (municipalities), 2021 and 2016 censuses – 100% data". Statistics Canada. ngày 9 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2025.
- 1 2 "Population and dwelling counts, for Canada and population centres, 2021 and 2016 censuses – 100% data". Statistics Canada. ngày 9 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2025.
- 1 2 "Population and dwelling counts, for Canada, provinces and territories, census metropolitan areas and census agglomerations, 2021 and 2016 censuses – 100% data". Statistics Canada. ngày 9 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2025.
- ↑ "Population estimates, July 1, by census division, 2021 boundaries". Statistics Canada. ngày 14 tháng 1 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Government of Canada, Statistics Canada (ngày 27 tháng 11 năm 2024). "Gross domestic product (GDP) at basic prices, by census metropolitan area (CMA)". www150.statcan.gc.ca. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2024.
- ↑ "American Heritage Dictionary entry: Toronto". American Heritage Dictionary. HarperCollins. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Bergin, Caitlin. "Chranna? Turono? Toe-ron-toe? Sociophonetic perception in the pronunciation of "Toronto"" (PDF). Carleton University. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2022.
- ↑ Crystal, David (1995). Cambridge Encyclopedia of the English Language. New York: Cambridge University Press. tr. 341.
- ↑ Gallinger, Zack; Motskin, Arik (ngày 24 tháng 8 năm 2017). "This is How Canada Talks". The 10 and 3. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2018.
- ↑ Friday, ngày 18 tháng 4 năm 2014 7:40 PM EDT Facebook Twitter RSS (ngày 5 tháng 3 năm 2013). "Toronto's population overtakes Chicago | Toronto Star". Thestar.com. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014.
{{Chú thích web}}:|tác giả=có tên chung (trợ giúp)Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết) - ↑ Peat, Don. "Toronto now fourth largest city in North America | Toronto & GTA | News". Toronto Sun. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014.
- ↑ "(Mã 535) Census Profile". 2011 census. Cơ quan Thống kê Canada. 2012.
- ↑ "Population and dwelling counts, for population centres, 2011 and 2006 censuses". Statistics Canada, 2011 Census of Population. ngày 8 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2007.
- 1 2 The Children's Visual World Atlas. Sydney, Australia: Fog City Press. 2004. tr. 76. ISBN 1-74089-317-4.
{{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|authors=(trợ giúp) - 1 2 Citizenship and Immigration Canada (tháng 9 năm 2006). "Canada-Ontario-Toronto Memorandum of Understanding on Immigration and Settlement (electronic version)". Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2007.
- ↑ "City of Toronto, Ontario". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2007.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - 1 2 City of Toronto (2007) – Toronto economic overview, Key industry clusters và A Diversified Economy Lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2008 tại Wayback Machine. Truy cập 2007-03-01.
- ↑ ICF Consulting (tháng 2 năm 2000). "Toronto Competes". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2007.
- ↑ "What makes a global city? Lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2013 tại Wayback Machine", (2007)
- ↑ Citymayors.com, Toronto Star (2004). Truy cập 2007-07-08.
- ↑ "Vancouver is 'best city to live'". CNN. ngày 5 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2007.
- ↑ Mercer Human Resource Consulting (2006). "Mercer 2006 Quality of Living Survey" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2007.
- ↑ Myrvold, Myrvold (1997). The people of Scarborough: a history. Toronto: City of Scarborough Public Library Board. tr. 12–18. ISBN 0968308600.
- ↑ Xem R. F. Williamson, ed., Toronto: An Illustrated History of its First 12,000 Years (Toronto: James Lorimer, 2008), ch. 2, phần đề cập đến di chỉ Mantle.
- ↑ "The real story of how Toronto got its name". Natural Resources Canada (2005). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2006.
- ↑ Schmalz, Peter S. (1991). The Ojibwa of Southern Ontario. Toronto: University of Toronto Press|. ISBN 978-0802067784.
- ↑ Fort Rouillé Lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2012 tại Wayback Machine, Jarvis Collegiate Institute (2006). Truy cập 2006-12-08.
- ↑ Natives and newcomers, 1600–1793, City of Toronto (2006). Truy cập 2006-12-08.
- ↑ "History of Ontario's Legislative Buildings". Government of Ontario. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2007.
- ↑ "Welcome to the birthplace of Toronto". Friends of Fort York (2006). Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2006.
- ↑ "Battle of York". Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2007.
- ↑ Black history at the City of Toronto Archives Lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2014 tại Wayback Machine, City of Toronto (2009). Truy cập 2009-03-13.
- ↑ "Canada Provinces". Statoids.com. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2010.
- ↑ Westward ho? The shifting geography of corporate power in Canada Lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2013 tại Wayback Machine, Journal of Canadian Studies (2002). Truy cập 2007-01-14.
- ↑ Municipality of Metropolitan Toronto Act, Government of Ontario (2000). Truy cập 2006-12-29.
- ↑ SOS! Canadian Disasters Library and Archives Canada (2006). Truy cập 2008-12-19.
- ↑ Population statistics and land area Lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2007 tại Wayback Machine, Statistics Canada (2001). Truy cập 2006-12-05.
- ↑ "Getting Here". Visiting Toronto. City of Toronto. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008.
- ↑ "City of Toronto: Toronto Facts, Toronto's geography". Toronto.ca. ngày 23 tháng 10 năm 2000. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2009.
- ↑ "1981 to 2010 Canadian Climate Normals". Environment Canada. ngày 13 tháng 2 năm 2014. Climate ID: 6158350. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2014.
- ↑ "Toronto Population". Canada Population. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2019.
- ↑ "Census of Canada, 1890–91 = Recensement du Cana... – Canadiana Online". www.canadiana.ca. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2021.
- ↑ "Census of Canada, 1880–81 = Recensement du Canada, 1880–81". canadiana.ca. tr. 406. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Census of the Canadas, 1860–61". canadiana.com. tr. 78. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Census of the Canadas, 1851-2". canadiana.ca. tr. A38. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Censuses of Canada, 1665 to 1871 : statistics o... – Canadiana Online". www.canadiana.ca. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2021.
- ↑ "Population and dwelling counts: Canada, provinces and territories, census divisions and census subdivisions (municipalities), Ontario". Statistics Canada. ngày 9 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Francine Kopun; Nicholas Keung (ngày 5 tháng 12 năm 2007). "A city of unmatched diversity". Toronto Star. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2008.
- ↑ ""A few frank words about immigration", The Globe and Mail. ngày 7 tháng 10 năm 2010; accessed ngày 8 tháng 2 năm 2014.
- ↑ Government of Canada, Statistics Canada (ngày 9 tháng 2 năm 2022). "Profile table, Census Profile, 2021 Census of Population - Toronto, City (C) [Census subdivision], Ontario". www12.statcan.gc.ca. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2023.
- ↑ "National Household Survey (NHS) Profile, 2011". 2.statcan.gc.ca. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014.
- ↑ Various Languages Spoken – Toronto Lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2020 tại Wayback Machine CMA, Statistics Canada (2006); truy cập 9 tháng 9 năm 2009.
- ↑ Language used at work by mother tongue in Toronto Lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2008 tại Wayback Machine CMA, Statistics Canada (2001). Truy cập 2006-12-05.
- ↑ Language used at work by mother tongue (City of Toronto) Lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2008 tại Wayback Machine, Statistics Canada (2001); truy cập 2006-12-05.
- ↑ "City of Toronto: Emergency Services– 9–1–1 = EMERGENCY in any language". City of Toronto. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2007.
- ↑ "Toronto Public Library contributes 63 millionth record" OCLC (2006-02-03). Truy nhập 2007-07-08.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 "International Alliance Program". City of Toronto (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 7 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2019.
Thư mục
[sửa | sửa mã nguồn]- Dinnie, Keith (2011). City Branding: Theory and Cases. Palgrave Macmillan. ISBN 978-0-230-24185-5.
- Duffy, Hazel (2004). Competitive Cities: Succeeding in the Global Economy. Taylor & Francis. ISBN 978-0-203-36231-0.
- Gibson, Sally (2008). Toronto's Distillery District: history by the lake. Cityscape Holdings Inc. and Dundee Distillery District (GP) Commercial Inc. ISBN 978-0-9809905-0-8.
- Hounsom, Eric Wilfrid (1970). Toronto in 1810. Toronto: Ryerson Press. ISBN 978-0-7700-0311-1.
- Johansen Aase, Emily (2014). Cosmopolitanism and Place: Spatial Forms in Contemporary Anglophone Literature. New York City, NY, USA: Palgrave Macmillan. ISBN 978-1-137-40266-0.
- Johnson, James Keith; Wilson, Bruce G. (1989). Historical Essays on Upper Canada: New Perspectives. McGill-Queen's Press. ISBN 978-0-88629-070-2.
- Myrvold, Barbara; Fahey, Curtis (1997). The people of Scarborough : a history. Scarborough, Ont.: Scarborough Public Library Board. ISBN 978-0-9683086-0-8.
- Robertson, John Ross (1894). Robertson's Landmarks of Toronto: A Collection of Historical Sketches of the Old Town of York from 1792 Until 1837, and of Toronto from 1834 to 1894. Toronto: J. Ross Robertson.
- Schmalz, Peter S. (1991). The Ojibwa of Southern Ontario. Toronto: University of Toronto Press|. ISBN 978-0-8020-6778-4.
- Williamson, R. F., biên tập (2008). Toronto: An Illustrated History of its First 12,000 Years. Toronto, Ontario: James Lorimer.
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Akler, Howard; Hood, Sarah (2003). Toronto: The Unknown City. Arsenal Pulp Press. ISBN 978-1-55152-146-6.
- Careless, J.M.S. "Toronto". The Canadian Encyclopedia. Historica Foundation of Canada. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2005.
- Careless, J. M. S (1984). Toronto to 1918: An Illustrated History. J. Lorimer and National Museum of Man. ISBN 978-0-88862-665-3.
- "Ultimate Inline Skating Guide to Toronto v1.5" (Google Earth). 2007. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2007.
- Filey, Mike (2008). Toronto: the way we were. Dundurn Press. ISBN 978-1-55002-842-3.
- Fulford, Robert (1995). Accidental city: the transformation of Toronto. Toronto: Macfarlane, Walter & Ross. ISBN 978-0-921912-91-0. Also ISBN 1-55199-010-5 (paperback).
- Harris, Richard (ngày 7 tháng 10 năm 1999). Unplanned Suburbs: Toronto's American Tragedy, 1900 to 1950. JHU Press. ISBN 978-0-8018-6282-3.
- The novel "In the Skin of a Lion" by Michael Ondaatje depicts Toronto in the 1920s, giving prominence to the construction of Toronto landmarks, such as the Prince Edward Viaduct and the R. C. Harris Water Treatment Plant, and focusing on the lives of the immigrant workers.
- Phillips, Robert; Bram, Leon; Dickey, Norma (1971). Funk & Wagnalls New Encyclopedia. Quyển 23. New York: Funk & Wagnalls. ISBN 978-0-8343-0025-5.
- Rayburn, Alan (2001). Naming Canada: stories about Canadian place names (ấn bản thứ 2). Toronto: University of Toronto Press. ISBN 978-0-8020-8293-0.
- Statistics Canada (2003). "Toronto". Statistics Canada. 2002. 2001 Community Profiles. Statistics Canada Catalogue no. 93F0053XIE. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2005.
- City of Toronto. "Toronto's Economic Profile". City of Toronto. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2006.
- Whitzman, Carolyn (2009). Suburb, slum, urban village: transformations in Toronto's Parkdale neighbourhood, 1875–2002. UBC Press. ISBN 978-0-7748-1535-2.