Ông Tô Lâm chỉ đạo xây xã phường xã hội chủ nghĩa: Giống và khác gì mô hình Mác-Lênin?
Nguồn hình ảnh, BBC/Andro Saini
Hơn một năm trước, khi Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết 68, coi kinh tế tư nhân là "một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia", một số nhà quan sát nói với BBC News Tiếng Việt rằng đây là một bước đi thiết thực.
Trên thực tế, Hiến pháp, và Nghị quyết 79 mới ban hành gần đây, vẫn khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cách tiếp cận này đã dấy lên những bàn luận: Liệu có mâu thuẫn nào trong mô hình xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang hướng tới, đặc biệt khi so sánh với đặc trưng công hữu của chủ nghĩa xã hội kinh điển?
Mới đây, ông Tô Lâm, nay giữ thêm chức chủ tịch nước, đã yêu cầu Hà Nội đi đầu làm mẫu, đã gợi ý xây dựng thí điểm một phường hoặc xã xã hội chủ nghĩa, tạo mô hình mới hiệu quả, có sức lan tỏa ra cả nước.
Truyền thông Việt Nam lập tức đồng loạt ca ngợi và "gợi ý" của ông Tô Lâm đã nhanh chóng kích hoạt một cuộc thi đua, phấn đấu trên phạm vi toàn quốc. Không chỉ cấp phường xã, các quan chức chính quyền, các nhà lý luận đã đề cập đến việc xây dựng chủ nghĩa xã hội cấp tỉnh, hướng tới vạch đích 2045, thời điểm mà ông Tô Lâm nói là sẽ hoàn tất thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Vậy mô hình mà ông Tô Lâm hướng tới liệu có gì tương đồng và khác biệt so với các định nghĩa kinh điển về chủ nghĩa xã hội trong lý luận Mác-Lênin?
'Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa'
Trong học thuyết Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản được xây dựng trên nền tảng phê phán chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là cách hệ thống này vận hành dựa trên lợi nhuận và tích lũy tư bản.
Một trong những khái niệm trung tâm là "học thuyết giá trị lao động", theo đó giá trị của hàng hóa được tạo ra từ lao động của con người.
Các Mác (Karl Marx) cho rằng trong nền kinh tế tư bản, người lao động tạo ra giá trị lớn hơn mức tiền công họ nhận được, phần chênh lệch này trở thành "giá trị thặng dư" mà giới chủ sở hữu tư bản thu về dưới dạng lợi nhuận.
Từ lập luận đó, ông cho rằng chủ nghĩa tư bản có xu hướng đặt lợi nhuận lên hàng đầu, dẫn tới bất bình đẳng giàu nghèo, cạnh tranh tích lũy và bóc lột lao động.
Lênin (Vladimir Ilyich Lenin), lãnh tụ của phong trào cách mạng vô sản Nga, sau này tiếp tục phát triển tư tưởng này, cho rằng chủ nghĩa tư bản khi phát triển đến giai đoạn cao sẽ hình thành chủ nghĩa đế quốc.
Theo lý thuyết, chủ nghĩa xã hội được xem là giai đoạn chuyển tiếp nhằm đưa các tư liệu sản xuất quan trọng vào sở hữu chung hoặc dưới sự kiểm soát của nhà nước, với mục tiêu giảm bất bình đẳng và hạn chế việc nền kinh tế bị chi phối hoàn toàn bởi động cơ lợi nhuận.
Giáo sư Adam Fforde từ Đại học Victoria, Úc nói với BBC News Tiếng Việt rằng từ định nghĩa đó mới có chế độ kế hoạch của Liên Xô. Lênin, với tư cách lãnh tụ của Liên bang Xô Viết trong giai đoạn đầu, đã có cơ hội để áp dụng các lý thuyết này vào thực tiễn.
Theo nhà nghiên cứu từng làm luận án tiến sĩ với đề tài về hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam hồi đầu những năm 1980, những tiêu chuẩn của học thuyết Mác-Lênin không giống mô hình "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" hiện nay ở Việt Nam.
Sau khi Sài Gòn thất thủ vào tháng 4/1975, Việt Nam áp dụng mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước.
Ở miền Nam, nền kinh tế thị trường từng tồn tại dưới thời Việt Nam Cộng hòa bị xóa bỏ nhanh chóng.
Chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã tiến hành quốc hữu hóa ngân hàng, thương nghiệp và nhiều cơ sở sản xuất tư nhân. Các chiến dịch "cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh" được triển khai rộng khắp.
Ban đầu, chiến dịch tập trung vào cộng đồng doanh nhân người Hoa – lực lượng nắm giữ phần đáng kể hoạt động thương mại tại các đô thị miền Nam, sau đó mở rộng ra các doanh nghiệp khác.
Từ đó, nền kinh tế bắt đầu rơi vào khủng hoảng toàn diện. Sản xuất đình đốn, thiếu nguyên liệu và thiếu lương thực diễn ra trên diện rộng. Cơ chế bao cấp cùng các chính sách quản lý cứng nhắc khiến năng suất lao động thấp, trong khi thị trường hàng hóa méo mó và tình trạng chợ đen phát triển mạnh.
Những sai lầm trong điều hành kinh tế, cùng việc cải cách tiền tệ năm 1985 không đạt mục tiêu, tiếp tục đẩy lạm phát tăng vọt, tới khoảng 400%.
Sau khi Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời năm 1986, Đảng bắt đầu chuyển hướng chính sách, thực ra là một sự sửa sai, dần trả lại cho thị trường những chức năng cơ bản nhất.
Tại Đại hội 6 vào cuối năm 1986, chính sách Đổi mới được đề ra, mở đường cho việc khôi phục cơ chế thị trường, cho phép kinh tế tư nhân hoạt động trở lại và thu hút đầu tư nước ngoài.
Từ đây, khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" dần xuất hiện như một cách dung hòa giữa cải cách kinh tế và việc duy trì định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa.
Nguồn hình ảnh, Getty Images
'Công không hẳn là công, tư không hẳn là tư'
Đánh giá về những bước đi gần đây của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Giáo sư Stephen B. Young, Giám đốc điều hành tổ chức Caux Round Table for Moral Capitalism có trụ sở ở Mỹ, nói với BBC News Tiếng Việt: "Tổng Bí thư Tô Lâm và nhiều đồng chí của ông ấy thấy rõ việc xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa kiểu Mác-Lênin là không có kết quả."
"Nếu muốn giữ được lý tưởng của chủ nghĩa xã hội thì phải tìm được những khía cạnh mới, ví dụ năm ngoái Bộ Chính trị ra Nghị quyết 68 để nâng cao vai trò của kinh tế tư nhân."
Ông đánh giá rằng chủ trương này có thể giúp hội tụ được sức mạnh của người dân để phát triển đất nước và rằng cách tiếp cận mới sẽ có cơ hội thành công hơn so với việc bám sát lý thuyết kinh điển của Mác-Lênin.
Tuy nhiên, Giáo sư Young lưu ý rằng cần phải xem xét cách Việt Nam thực hiện Nghị quyết 79 được ban hành hồi tháng 1/2026, trong đó xác lập vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước.
Ông cho rằng quan trọng là phải có sự kết hợp tốt giữa nhà nước và tư nhân, điều mà theo ông là "có thể sẽ có những chuyện tế nhị".
Theo ông Young, cách giải quyết là "phải nghe cả hai bên, để có sự hài hòa giữa kinh tế tư nhân và nhà nước".
Nguồn hình ảnh, Stephen B. Young
Trong khi đó, Giáo sư Adam Fforde cho rằng có mâu thuẫn giữa nội dung của Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79, đồng thời lưu ý rằng, khi nói gì về Việt Nam thì phải kèm thêm chữ "nhưng".
"Một nhà nghiên cứu về Việt Nam mà tôi đánh giá rất cao từng nói: 'Ở Việt Nam, tư không hẳn là tư, công không hẳn là công'. Cho nên cái vỏ gọi là kinh tế nhà nước, thì đấy vẫn là một con hổ chạy theo lợi nhuận, nhưng nó bị hạn chế là lãnh đạo và nhân sự cấp cao của nó bị ảnh hưởng bởi cơ chế chính thức của Đảng nhiều hơn."
"Những con hổ khác" có thể là tư nhân, nhưng cũng nằm dưới sự chi phối mạnh mẽ của nhà nước, ông nhận định.
Khi xem xét lịch sử gần đây của Việt Nam, ông cảnh báo đến nguy cơ mất cân bằng, mất kiểm soát, khi để một vài con hổ trở nên quá mạnh, có thể thao túng hệ thống.
Ông dẫn ví dụ thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với gần 20 "quả đấm thép" – những tập đoàn, tổng công ty nhà nước khổng lồ như Vinashin, Vinalines. Theo Giáo sư Fforde, đấy là "những con hổ" rất lớn mà ông Dũng phải dựa vào và "phải nuôi".
Ông ví von rằng con hổ lớn có thể bắt được con mồi lớn, "nhưng nó cũng có thể bắt luôn cả mình" và điều này là "nguy hiểm".
Nguồn hình ảnh, Adam Fforde
'Chủ nghĩa xã hội' có chung sống với tự do?
Không lâu sau khi ông Tô Lâm đề nghị Hà Nội xây dựng thí điểm "xã, phường xã hội chủ nghĩa với quy mô từ 500.000 – 1 triệu dân, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Đại Thắng cho biết thành phố sẽ chọn hai xã cạnh nhau với quy mô dân số khoảng 700.000 để thí điểm.
Hôm 5/5, ông Thắng chủ trì phiên họp thường kỳ tháng Năm của chính quyền thành phố, trong đó nội dung dự thảo thí điểm mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" với 54 tiêu chí, gồm 52 tiêu chí chính và hai tiêu chí tổng hợp là "Chỉ số hạnh phúc của người dân" và "Mức độ hài lòng chung".
Lâu nay, Việt Nam đã xác định một số đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa, bao gồm: một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo; và có quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế.
Thực tiễn ở Việt Nam cũng như kinh nghiệm của nhiều quốc gia cộng sản trước đây thường làm dấy lên tranh luận về mức độ tự do của công dân, nhất là tự do biểu đạt và tự do báo chí.
"Lập trường của tôi sau bao nhiêu năm là: tự do là một chuyện rất quan trọng cho sự phát triển, phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa," Giáo sư Young nói.
Qua nhiều năm tiếp xúc, ông thấy nhiều người Việt cả ở trong nước và hải ngoại nói rằng họ ghen tị với Singapore và Hàn Quốc.
Theo ông, ở hai nước đó, chính phủ rất quan trọng trong vai trò vạch ra đường lối. Tuy nhiên, rõ ràng là Hàn Quốc, và ở một mức độ thấp hơn là Singapore, có không gian cho xã hội dân sự, cho báo chí và ngôn luận rộng mở hơn nhiều so với Việt Nam.
Giáo sư Young cũng đề cập đến GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2025 đạt 5.026 USD (theo số liệu của Chính phủ Việt Nam), thua xa của Hàn Quốc – khoảng 36.000 USD; và Singapore – gần 100.000 USD.
"Nếu Việt Nam muốn được như Hàn Quốc, Singapore thì họ phải trao quyền cho dân, giao quyền cho các doanh nghiệp tư nhân," ông nói thêm.
Ông cho rằng nếu Việt Nam có thể trao quyền cho cá nhân, tư nhân, và báo chí có nhiều không gian hơn, thay vì chỉ là công cụ tuyên truyền của Đảng, thì có thể phát triển nhanh hơn nữa "trong 10 năm tới".
Vị giáo sư người Mỹ nhấn mạnh rằng mở rộng không gian phản biện là rất quan trọng.
"Nhiều người sợ, không dám nói ra thì mình không học hỏi được từ họ, thành ra tôi nghĩ phải tìm cách trao quyền cho cá nhân, để họ đọc, họ nói, họ làm việc. Người nào làm được nhiều, có kết quả thì nên khen thưởng," ông gợi ý.
Trong khi đó, Giáo sư Adam Fforde cho rằng tự do ở Việt Nam bị hạn chế, nhưng nếu so với Trung Quốc, Triều Tiên hay Lào thì "thoáng hơn".
"Tại Việt Nam không phải là ai cũng sợ nói ra, nhưng nên cẩn thận theo một mức độ nào đó," ông nhận xét.
Nguồn hình ảnh, Getty Images
Các quốc gia cộng sản còn lại
Sau khi Liên Xô sụp đổ, thế giới còn năm quốc gia do các đảng kiểu cộng sản lãnh đạo và tuyên bố đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, gồm Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba và Triều Tiên.
Trung Quốc được xem là trường hợp thành công nhất về kinh tế, hiện là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.
Việt Nam từ sau Đổi mới đã duy trì tăng trưởng cao trong nhiều năm, thu hút đầu tư nước ngoài mạnh và giảm đáng kể tỷ lệ nghèo đói, còn Lào cũng cải cách theo hướng thị trường nhưng quy mô kinh tế nhỏ hơn nhiều.
Triều Tiên, quốc gia có mô hình hiện nay khác đáng kể so với chủ nghĩa Mác-Lênin cổ điển, bị cô lập với kinh tế thế giới và chịu nhiều lệnh trừng phạt quốc tế do chương trình hạt nhân của mình.
Từ thời nhà lãnh đạo Kim Nhật Thành, Bình Nhưỡng đã phát triển tư tưởng Juche (Chủ thể), thường được giải thích là "tự lực tự cường". Hệ tư tưởng này nhấn mạnh tính độc lập về chính trị, kinh tế và quân sự, đồng thời đặt vai trò lãnh tụ ở vị trí trung tâm. Trong lần sửa đổi mới nhất vào đầu năm 2026, Triều Tiên đã bỏ cụm "Xã hội chủ nghĩa" ra khỏi tên gọi bản hiến pháp của mình (tên gọi cũ là Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên).
Ở bên kia bán cầu, Cuba hiện đang chìm trong khủng hoảng kinh tế với tình trạng thiếu điện, thiếu lương thực, thiếu nhiên liệu và lạm phát kéo dài, trong bối cảnh các lệnh cấm vận của Mỹ tiếp tục hạn chế khả năng tiếp cận tài chính và thương mại quốc tế của Havana.
Theo Giáo sư Young, từ lúc Liên Xô sụp đổ đến nay chưa có nước xã hội chủ nghĩa kiểu cũ nào thành công đáng kể.
Ông nói rằng "Triều Tiên là chế độ độc tài, không phát triển được".
"Nga bây giờ không có một đảng cộng sản nào mạnh, Putin có một chế độ như phát xít hơn là cộng sản hồi xưa. Trong khi ông Tập Cận Bình thì cứ nói là có chế độ chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, không theo Mác-Lênin nữa, mà theo truyền thống của người Tàu. Đối với tôi, đó là một chế độ mà chính phủ ở trên, ông Tập như là hoàng đế hồi xưa."
"Chế độ đó cũng có thể gọi là chủ nghĩa xã hội, vì đặt tổ chức lên trên hết, cá nhân không quan trọng," ông đánh giá, song lưu ý rằng hệ thống giám sát đối với công dân tại Trung Quốc quá nghiêm ngặt khiến người dân mất đi quyền tự do, luôn sợ hãi và không dám biểu đạt quan điểm của mình.
Giáo sư Fforde đồng quan điểm rằng Triều Tiên đã thất bại, song cho rằng Trung Quốc và Việt Nam vừa giống lại vừa khác nhau.
Theo ông, thành công về kinh tế của Trung Quốc là nhờ việc xây dựng chế độ kế hoạch hóa tập trung trước, điều mà Việt Nam không làm.
"Nhưng sự khác biệt mà tôi thích, và cho là hay mà ít người quan tâm đến, là việc cái cách Đảng Cộng sản Liên Xô thời sau Stalin đã sử dụng cơ chế kiềm chế và cân bằng trong nội bộ đảng để chống việc tập quyền, trong khi Trung Quốc thì không có.
"Cho nên cách đây mấy năm có những nghiên cứu về việc nhất thể hóa ở Việt Nam, người ta cho đó là điều không hay, nguy hiểm, là tập quyền, không nên làm," ông nói với BBC.
Theo chuyên gia này, nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhận thức được rằng tập trung quyền lực quá mức trong chế độ độc đảng là "nguy hiểm và không nên".
"Có một số kinh nghiệm trước đây mà ông Huy Đức đã viết trong cuốn sách Bên thắng cuộc. Đó là việc ông Lê Duẩn và ông Lê Đức Thọ cũng tập quyền, xây dựng bộ máy để đánh những người khác, điều đó là nguy hiểm," ông nói thêm.
Giáo sư Fforde nhấn mạnh rằng việc nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam cảnh giác với tập quyền quá mức là điều tích cực.
"Sự khác biệt giữa Việt Nam với Trung Quốc, theo tôi, là nền chính trị ở Trung Quốc không linh hoạt như Việt Nam," ông đánh giá,
Chuyên gia này cũng cho rằng Trung Quốc dù thành công về mặt kinh tế nhưng việc áp đặt dân và không có tự do internet không phải là dấu hiệu của một chế độ mạnh, mà là một chế độ yếu và sẽ làm cho Mỹ và EU "không ưa".
"Việt Nam thì khôn khéo hơn, là bạn của mọi phía. Cho nên Trung Quốc trong cái thành công có cái thất bại, còn Việt Nam không nói là thành công, nhưng như thế là linh hoạt," ông kết luận.
- Giáo sư Adam Fforde là một nhà nghiên cứu về Việt Nam, đang viết cuốn sách The Vietnamese Economic Miracle (tạm dịch: Phép màu kinh tế Việt Nam). Ông từng đến Việt Nam để học tập, nghiên cứu vào thập niên 1980-1990 và từng làm cố vấn cho văn phòng SIDA (Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển) tại Đại sứ quán Thụy Điển ở Hà Nội giai đoạn 1989-1992.
- Giáo sư Stephen B. Young từng làm việc cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) từ năm 1968-1972, sau đó là Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Những năm sau 1975, ông cùng vợ tham gia trợ giúp các thuyền nhân Việt Nam tị nạn tại Mỹ. Ông là tác giả cuốn sách Kissinger's Betrayal: How America Lost the Vietnam War (Sự phản bội của Kissinger: Mỹ đã thua Chiến tranh Việt Nam như thế nànào). Ông từng là phó hiệu trưởng Trường Luật Harvard, Giáo sư Luật tại Hamline University Law School và hiện là giám đốc điều hành tổ chức Caux Round Table for Moral Capitalism có trụ sở ở Mỹ.
Tin chính
BBC giới thiệu
Phổ biến
Nội dung không có