Hayley Williams
Bài viết này cần được cập nhật do có chứa các thông tin có thể đã lỗi thời hay không còn chính xác nữa. (3/2025) |
Hayley Williams | |
|---|---|
Hayley Williams biểu diễn năm 2023 | |
| Thông tin nghệ sĩ | |
| Tên khai sinh | Hayley Nichole Williams |
| Sinh | 27 tháng 12, 1988 Meridian, Mississippi, Mỹ. |
| Nguyên quán | Franklin, Tennessee, Mỹ |
| Hôn nhân | |
| Nghề nghiệp | Ca sĩ, nhạc sĩ |
| Thể loại | Emo, pop punk, alternative rock, new wave, synth-pop |
| Nhạc cụ | Giọng hát, nhạc cụ bàn phím, guitar |
| Năm hoạt động | 2003–hiện tại |
| Hãng đĩa | Fueled by Ramen, Atlantic Records, Post Atlantic |
| Thành viên của | Paramore |
| Website | hayleywilliams |
Hayley Nichole Williams (sinh ngày 27 tháng 12 năm 1988 tại Meridian, Mississippi) là một ca sĩ, nhạc sĩ người Mỹ. Cô là ca sĩ và là người sáng lập ban nhạc pop punk Paramore.
Hayley sinh ra và lớn lên tại Meridian, Mississippi. Phụ huynh cô li dị năm cô 13 tuổi. Sau đó cô chuyển đến sống với mẹ ở Franklin, Tennessee và thành lập ban nhạc Paramore cùng các thành viên Josh Farro, Zac Farro, và Jeremy Davis. Paramore đã phát hành sáu album phòng thu: All We Know Is Falling (2005), Riot! (2007), Brand New Eyes (2009), Paramore (2013), After Laughter (2017) và This Is Why (2023). Ban nhạc có đội hình liên tục thay đổi (hiện gồm Hayley, Zac Farro và Taylor York) với Hayley là thành viên duy nhất xuất hiện trong cả sáu album. Cùng với Taylor, Hayley đã giành Giải Grammy cho bài hát rock xuất sắc nhất với bài hát "Ain't It Fun".
Ngoài sự nghiệp âm nhạc với Paramore, các tác phẩm của Hayley còn bao gồm bài hát "Teenagers" - nhạc phim Thân xác ác quỷ (2009) và các màn hợp tác với The Chariot, October Fall, New Found Glory, Set Your Goals, Zedd, Moses Sumney và Turnstile. Năm 2010, cô góp giọng trong đĩa đơn "Airplanes" của B.o.B, đạt vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Mỹ. Phần tiếp theo của bài hát, "Airplanes, Part II", có thêm những đoạn rap mới của B.o.B và một đoạn rap khách mời của Eminem, giữ nguyên giọng của Hayley, đã mang về cho cô một đề cử Giải Grammy cho hợp tác giọng pop xuất sắc nhất. Năm 2023, cô góp giọng trong bản thu âm lại album Speak Now năm 2010 của Taylor Swift trong ca khúc "Castles Crumbling". Cô cũng đã phát hành các EP solo Petals for Armor I (2020) và Petals for Armor II (2020), album solo đầy đủ tiếp theo mang tên Petals for Armor (2020), và album solo thứ hai Flowers for Vases / Descansos (2021). Năm 2025, cô phát hành album thứ ba Ego Death at a Bachelorette Party dưới công ty độc lập của riêng mình mang tên Post Atlantic.
Các dự án khác của Hayley bao gồm chuỗi chương trình âm nhạc Kiss-Off và công ty thuốc nhuộm tóc Good Dye Young.
Độc giả của Alternative Press đã bình chọn Hayley đứng đầu trong cuộc thăm dò "5 ca sĩ nhạc pop-punk vĩ đại nhất mọi thời đại"[1].
Tiểu sử
[sửa | sửa mã nguồn]Hayley Nichole Williams[2][3] sinh ngày 27 tháng 12 năm 1988 tại Meridian, Mississippi, là con gái của Cristi và Joey Williams[4]. Cô có hai em gái cùng cha khác mẹ[5][6]. Người hàng xóm thời thơ ấu của cô là cầu thủ NBA Rodney Hood[7]. Sau khi cha mẹ ly hôn vào năm 2002, khi cô 13 tuổi, cô chuyển đến Franklin, Tennessee cùng mẹ[8][9][10]. Tại trường mới, cô gặp Josh và Zac Farro[11][12]. Ngay sau khi ổn định cuộc sống ở Franklin, cô bắt đầu học thanh nhạc với huấn luyện viên thanh nhạc Brett Manning[13][14][15]. Khi còn đi học, Hayley đã thử giọng cho một ban nhạc cover funk địa phương có tên là The Factory và gặp Jeremy Davis[12][15][16].
Sự nghiệp âm nhạc
[sửa | sửa mã nguồn]2004–nay: Paramore
[sửa | sửa mã nguồn]


Hayley được quản lý Dave Steunebrink và Richard Williams phát hiện vào năm 2003 và ký hợp đồng sản xuất hai năm với cô bé 14 tuổi[17][18]. Vào thời điểm đó, cô đang viết các bài hát nhạc pop với các nhạc sĩ ở Nashville[18]. Hayley được các luật sư của Richard Williams là Jim Zumwalt và Kent Marcus giới thiệu cho Tom Storms, người phụ trách tuyển chọn nghệ sĩ của Atlantic Records, và sau đó ký hợp đồng với Jason Flom[15]. Kế hoạch ban đầu của hãng đĩa dành cho nghệ sĩ mới của họ là biến cô thành một nghệ sĩ nhạc pop solo, nhưng Williams đã phản đối và nói rằng cô muốn tham gia một ban nhạc và chơi nhạc pop punk[19][15][20].
Atlantic quyết định thực hiện nguyện vọng của cô, và sau đó cô thành lập Paramore cùng với Josh Farro, Zac Farro và Jeremy Davis[18]. Âm nhạc của Paramore ban đầu dự định được phát hành trên Atlantic Records, nhưng bộ phận tiếp thị của hãng đĩa quyết định rằng sẽ tốt hơn cho hình ảnh của ban nhạc nếu không gắn họ với một hãng đĩa lớn. Thay vào đó, họ phát hành âm nhạc của mình thông qua một hãng đĩa ngách "ngầu" hơn là Fueled by Ramen[18]. Theo Hayley, cái tên "Paramore" xuất phát từ tên thời con gái của mẹ của một trong những tay chơi bass đầu tiên của họ[21]. Khi nhóm biết được ý nghĩa của từ đồng âm "paramour" ("người yêu bí mật"), họ quyết định lấy tên này, sử dụng cách viết Paramore[15][22]. Album đầu tay của ban nhạc, All We Know Is Falling, được phát hành vào năm 2005 khi Hayley mới chỉ 16 tuổi. Kể từ đó, Paramore đã phát hành thêm năm album phòng thu nữa, Riot! (2007), Brand New Eyes (2009), Paramore (2013), After Laughter (2017) và This Is Why (2023). Vào tháng 6 năm 2009, ban nhạc chào đón Taylor York với tư cách là thành viên chính thức, mặc dù anh ấy đã chơi với tư cách là thành viên lưu diễn cùng ban nhạc từ năm 2007. Vào tháng 12 năm 2010, Josh và Zac Farro rời ban nhạc. Tin tức được Hayley đăng tải trên trang web của Paramore, sau đó Josh đăng một bài viết trên blog xác nhận sự ra đi của họ, gọi nhóm là "một sản phẩm được tạo ra bởi một hãng thu âm lớn, cưỡi trên đuôi áo mang tên 'giấc mơ của Hayley'"[23][24].
Năm 2006, Paramore lần đầu tiên đi lưu diễn bên ngoài Hoa Kỳ, bao gồm chuyến lưu diễn chính tại Vương quốc Anh và hỗ trợ ban nhạc rock post-hardcore The Blackout tại Lễ hội Give It A Name ở Châu Âu[25]. Năm tiếp theo, cô và các thành viên còn lại của Paramore xuất hiện trong video âm nhạc cho bài hát "Kiss Me" của New Found Glory[26]. Năm 2007, cô xuất hiện với tư cách là nhân vật có thể điều khiển được trong trò chơi điện tử Guitar Hero World Tour sau khi hoàn thành "Misery Business"[27][28][29].
Hayley được trao giải "Trailblazer Award" tại lễ trao giải Billboard dành cho người Nữ trong Âm nhạc năm 2014 vì đã tạo nên dấu ấn độc đáo trong âm nhạc và mở đường cho các nghệ sĩ khác [30]. Năm 2015, Hayley đóng vai 'Crimson Curse' trong video âm nhạc của Taylor Swift cho đĩa đơn "Bad Blood", cùng với mười sáu người nổi tiếng khác[31]. Cùng với thành viên ban nhạc và đồng tác giả Taylor York, Williams đã được đề cử và giành giải Grammy cho Bài hát Rock hay nhất tại lễ trao giải năm 2015 với bài hát "Ain't It Fun"[32][33][34]. Vào tháng 7 năm 2015, Williams đã giành giải APMA cho Ca sĩ xuất sắc nhất[35][36].
Đời tư
[sửa | sửa mã nguồn]Cô là bạn của gia đình Cyrus, cô đã lớn lên cùng với họ.[37]
Đĩa nhạc
[sửa | sửa mã nguồn]Hợp tác
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Đĩa đơn | Vị trí bảng xếp hạng cao nhất | Chứng nhận | Album | |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Mỹ | Úc | Áo | Canada | Đức | Ireland | New Zealand | Thụy Điển | Thụy Sĩ | Anh | ||||
| 2010 | "Airplanes" (B.o.B featuring Hayley Williams) |
2 | 2 | 2 | 2 | 8 | 2 | 1 | 10 | 5 | 1 | B.o.B Presents: The Adventures of Bobby Ray | |
| 2013 | "Stay the Night" (Zedd featuring Hayley Williams) |
18 | 11 | 20 | 22 | 15 | 8 | 20 | 47 | 56 | 2 |
|
Clarity |
Giải thưởng và đề cử
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Giải thưởng | Hạng mục | Cộng tác | Kết quả |
|---|---|---|---|---|
| 2007 | Kerrang Readers' Poll 2007 | Sexiest Female Front Singer | Chính mình | Đề cử |
| 2008 | Kerrang Readers' Poll 2008 | Đoạt giải | ||
| Los Premios MTV Latinoamérica | Premio Fashionista 2008 | Đề cử | ||
| 2009 | Los Premios MTV Latinoamérica | Premio Fashionista 2009 | Đoạt giải | |
| Shockwaves NME Awards 2009 | Sexiest Female | Đoạt giải | ||
| Kerrang Readers' Poll 2009 | Đoạt giải | |||
| 2010 | 2010 MTV Video Music Awards | Video of the Year | "Airplanes" – B.o.B (có sự tham gia của Hayley Williams) | Đề cử |
| Best Male Video | Đề cử | |||
| Best Hip-Hop Video | Đề cử | |||
| Best Collaboration | Đề cử | |||
| 2011 | 37th People's Choice Awards | Favorite Song | Đề cử | |
| BET Awards 2011 | Video of the Year | Đề cử | ||
| Best Collaboration | Đề cử | |||
| Giải Grammy lần thứ 53 | Best Pop Collaboration With Vocals | "Airplanes, Part II" – B.o.B (cùng Eminem & Hayley Williams) | Đề cử |
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Ilana. "Fan poll: 5 greatest pop-punk vocalists of all time". Alternative Press Magazine (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "Hayley's Profile". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Iwasaki, Scott (ngày 6 tháng 5 năm 2010). "Paramore is ready for first 'official' tour". Deseret News. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2010.
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "Hayley Williams Bio allmusic" - ↑ Watson, Jaye (ngày 6 tháng 3 năm 2011). "Paramore's Hayley Williams' mom engaged after surprise proposal". 11alive.com. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2013.
- ↑ Fulton, Rick (ngày 1 tháng 2 năm 2008). "Hayley Williams takes on Amy Winehouse". Daily Record.
- ↑ DiFilippo, Bill (ngày 27 tháng 3 năm 2021). "Rodney Hood Just Learned His Childhood Neighbor Was Hayley Williams". Dime Magazine. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2022.
- ↑ "Hayley Williams: The FLOWERS for VASES / descansos Interview Radio Station on Apple Music". Apple Music (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2022.
- ↑ Brian Mansfield (ngày 20 tháng 8 năm 2007). "Pop-punkers Paramore find a niche". USA Today.
- ↑ Montgomery, James (ngày 23 tháng 9 năm 2009). "Paramore Are Set To Become The Kings And Queen Of The South". MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2011.
- ↑ "Paramore Biography". AllMusic. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2007.
- 1 2 Bayer, Jonah (tháng 2 năm 2008). "Born for This". Alternative Press. Số 235.
- ↑ Hayley Williams (ngày 17 tháng 10 năm 2007). "Youth Gone Wild" (Phỏng vấn). Phỏng vấn viên David Walter. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ↑ "Products by Brett Manning". JustForSingers.com. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2013.
- 1 2 3 4 5 Lauren, Sexton (ngày 22 tháng 1 năm 2013). "Ten Things About... Paramore". Digital Spy. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2017.
- ↑ Hayley Williams; Josh Farro (ngày 26 tháng 6 năm 2007). "ASL's Exclusive Interview With Paramore" (Phỏng vấn). Phỏng vấn viên Joshua Martin. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2007.
- ↑ "20 Things You May Not Know About Hayley Williams". Radio1045.iheart.com. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.[liên kết hỏng]
- 1 2 3 4 "Interview with Jeff Hanson". HitQuarters. ngày 20 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2010.
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "thefader" - ↑ "Interview With Steve Robertson". HitQuarters. ngày 9 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2010.
- ↑ Paramore. "Hello My Name Is" (Phỏng vấn). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009.
- ↑ Josh Farro; Hayley Williams; Jeremy Davis (ngày 14 tháng 7 năm 2007). "Interview With Paramore" (Phỏng vấn). Phỏng vấn viên cathyreay. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2011.
- ↑ Michaels, Sean (ngày 23 tháng 12 năm 2010). "Ex-Paramore members slam Hayley Williams". The Guardian. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2022.
- ↑ Karan, Tim (ngày 22 tháng 12 năm 2010). "Josh Farro "finally tells the truth" about Paramore". Alternative Press. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2017.
- ↑ Stokes, Paul (ngày 8 tháng 9 năm 2009). "Paramore announce Wembley Arena date live onstage in London". NME. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2017.
- ↑ "Kiss Me by New Found Glory". YouTube. ngày 18 tháng 9 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2009.
- ↑ "20 things you should know about Paramore". NME. ngày 5 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Lee Wilson (ngày 21 tháng 2 năm 2017). "Top 5 Best Paramore Songs". Redbull. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017.
- ↑ "Guitar Hero World Tour Full Song List". Lifewire.com. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "trailblazer" - ↑ Yagoda, Maria (ngày 17 tháng 5 năm 2015). "Meet the A-List Cast Starring in Taylor Swift's New Music Video". People. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "2014 Grammy Award wins in rock". grammy.com. ngày 30 tháng 4 năm 2017.
- ↑ Crane, Matt (ngày 8 tháng 2 năm 2015). "Paramore's "Ain't It Fun" wins Grammy for Best Rock Song". Alternative Press. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Beard, Lanford (ngày 8 tháng 2 năm 2015). "Paramore Wins Grammy for Best Rock Song for 'Ain't It Fun'". People. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2017.
- ↑ John D. Luersson (ngày 20 tháng 9 năm 2013). "Zedd and Hayley Williams Go Behind 'Stay the Night'". Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2017.
- ↑ "Hayley Williams wins the APMA for Best Vocalist". Alternative Press. ngày 22 tháng 7 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2015.
- ↑ "Paramore's Hayley Williams Defends Family Friend Miley Cyrus — 'She's A Great Girl' — Talks New Album". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2015.
- ↑ "RIAA Certifications for B.o.B". Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010.
- ↑ "ARIA Charts – Top 50 Singles Chart". Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2010.
- ↑ Canadian Recording Industry Association (CRIA): Gold & Platinum - January 2005 Lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2011 tại Wayback Machine. Cria.ca. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2013.
- ↑ "Latest Gold & Platinum Singles: New Zealand". Recording Industry Association of New Zealand. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2009.
- ↑ "ARIA Charts – 2013 Accreditations". Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2014.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Tiểu sử của Hayley William Lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2012 tại Wayback Machine on Paramore.net
Trích dẫn liên quan tới Hayley Williams tại Wikiquote- Williams/ Hayley Williams trên IMDb
- Sinh năm 1988
- Nữ ca sĩ nhạc rock Mỹ
- Tín hữu Kitô giáo Mỹ
- Người đoạt giải Grammy
- Nhân vật còn sống
- Ca sĩ Mỹ thế kỷ 21
- Ca sĩ thiếu nhi Mỹ
- Nữ ca sĩ nhạc pop Mỹ
- Người viết bài hát nhạc rock Mỹ
- Nữ ca sĩ-người viết bài hát Mỹ
- Nhạc sĩ nhạc pop thiếu nhi
- Ca sĩ từ Mississippi
- Người viết bài hát từ Mississippi
- Nữ ca sĩ thế kỷ 21
- Ca sĩ nhạc pop Mỹ