Declaration of Independence

Image


In Congress, July 4, 1776
The unanimous Declaration of the thirteen united States of America,

When in the Course of human events, it becomes necessary for one people to dissolve the political bands which have connected them with another, and to assume among the powers of the earth, the separate and equal station to which the Laws of Nature and of Nature’s God entitle them, a decent respect to the opinions of mankind requires that they should declare the causes which impel them to the separation.

We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness.–That to secure these rights, Governments are instituted among Men, deriving their just powers from the consent of the governed, –That whenever any Form of Government becomes destructive of these ends, it is the Right of the People to alter or to abolish it, and to institute new Government, laying its foundation on such principles and organizing its powers in such form, as to them shall seem most likely to effect their Safety and Happiness. Prudence, indeed, will dictate that Governments long established should not be changed for light and transient causes; and accordingly all experience hath shewn, that mankind are more disposed to suffer, while evils are sufferable, than to right themselves by abolishing the forms to which they are accustomed. But when a long train of abuses and usurpations, pursuing invariably the same Object evinces a design to reduce them under absolute Despotism, it is their right, it is their duty, to throw off such Government, and to provide new Guards for their future security.–Such has been the patient sufferance of these Colonies; and such is now the necessity which constrains them to alter their former Systems of Government. The history of the present King of Great Britain is a history of repeated injuries and usurpations, all having in direct object the establishment of an absolute Tyranny over these States. To prove this, let Facts be submitted to a candid world.

He has refused his Assent to Laws, the most wholesome and necessary for the public good.

He has forbidden his Governors to pass Laws of immediate and pressing importance, unless suspended in their operation till his Assent should be obtained; and when so suspended, he has utterly neglected to attend to them.

He has refused to pass other Laws for the accommodation of large districts of people, unless those people would relinquish the right of Representation in the Legislature, a right inestimable to them and formidable to tyrants only.

He has called together legislative bodies at places unusual, uncomfortable, and distant from the depository of their public Records, for the sole purpose of fatiguing them into compliance with his measures.

He has dissolved Representative Houses repeatedly, for opposing with manly firmness his invasions on the rights of the people.

He has refused for a long time, after such dissolutions, to cause others to be elected; whereby the Legislative powers, incapable of Annihilation, have returned to the People at large for their exercise; the State remaining in the mean time exposed to all the dangers of invasion from without, and convulsions within.

He has endeavoured to prevent the population of these States; for that purpose obstructing the Laws for Naturalization of Foreigners; refusing to pass others to encourage their migrations hither, and raising the conditions of new Appropriations of Lands.

He has obstructed the Administration of Justice, by refusing his Assent to Laws for establishing Judiciary powers.

He has made Judges dependent on his Will alone, for the tenure of their offices, and the amount and payment of their salaries.

He has erected a multitude of New Offices, and sent hither swarms of Officers to harrass our people, and eat out their substance.

He has kept among us, in times of peace, Standing Armies without the Consent of our legislatures.

He has affected to render the Military independent of and superior to the Civil power.
He has combined with others to subject us to a jurisdiction foreign to our constitution, and unacknowledged by our laws; giving his Assent to their Acts of pretended Legislation:

For Quartering large bodies of armed troops among us:

For protecting them, by a mock Trial, from punishment for any Murders which they should commit on the Inhabitants of these States:
For cutting off our Trade with all parts of the world:

For imposing Taxes on us without our Consent:
For depriving us in many cases, of the benefits of Trial by Jury:

For transporting us beyond Seas to be tried for pretended offences:

For abolishing the free System of English Laws in a neighbouring Province, establishing therein an Arbitrary government, and enlarging its Boundaries so as to render it at once an example and fit instrument for introducing the same absolute rule into these Colonies:

For taking away our Charters, abolishing our most valuable Laws, and altering fundamentally the Forms of our Governments:

For suspending our own Legislatures, and declaring themselves invested with power to legislate for us in all cases whatsoever.

He has abdicated Government here, by declaring us out of his Protection and waging War against us.

He has plundered our seas, ravaged our Coasts, burnt our towns, and destroyed the lives of our people.

He is at this time transporting large Armies of foreign Mercenaries to compleat the works of death, desolation and tyranny, already begun with circumstances of Cruelty & perfidy scarcely paralleled in the most barbarous ages, and totally unworthy the Head of a civilized nation.

He has constrained our fellow Citizens taken Captive on the high Seas to bear Arms against their Country, to become the executioners of their friends and Brethren, or to fall themselves by their Hands.

He has excited domestic insurrections amongst us, and has endeavoured to bring on the inhabitants of our frontiers, the merciless Indian Savages, whose known rule of warfare, is an undistinguished destruction of all ages, sexes and conditions.

In every stage of these Oppressions We have Petitioned for Redress in the most humble terms: Our repeated Petitions have been answered only by repeated injury. A Prince, whose character is thus marked by every act which may define a Tyrant, is unfit to be the ruler of a free people.
Nor have We been wanting in attentions to our Brittish brethren. We have warned them from time to time of attempts by their legislature to extend an unwarrantable jurisdiction over us. We have reminded them of the circumstances of our emigration and settlement here. We have appealed to their native justice and magnanimity, and we have conjured them by the ties of our common kindred to disavow these usurpations, which, would inevitably interrupt our connections and correspondence. They too have been deaf to the voice of justice and of consanguinity. We must, therefore, acquiesce in the necessity, which denounces our Separation, and hold them, as we hold the rest of mankind, Enemies in War, in Peace Friends.

We, therefore, the Representatives of the united States of America, in General Congress, Assembled, appealing to the Supreme Judge of the world for the rectitude of our intentions, do, in the Name, and by Authority of the good People of these Colonies, solemnly publish and declare, That these United Colonies are, and of Right ought to be Free and Independent States; that they are Absolved from all Allegiance to the British Crown, and that all political connection between them and the State of Great Britain, is and ought to be totally dissolved; and that as Free and Independent States, they have full Power to levy War, conclude Peace, contract Alliances, establish Commerce, and to do all other Acts and Things which Independent States may of right do. And for the support of this Declaration, with a firm reliance on the protection of divine Providence, we mutually pledge to each other our Lives, our Fortunes and our sacred Honor.

Source: https://www.archives.gov/founding-docs/declaration-transcript

Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ

Bản dịch Tiếng Việt do Bộ ngoại giao Hoa Kỳ phát hành

Trong tiến trình phát triển của nhân loại, khi một dân tộc nào đó cần thiết phải xóa bỏ những mối liên kết chính trị giữa họ với một dân tộc khác và khẳng định trước các lực lượng trên toàn trái đất vị thế độc lập và bình đẳng mà các qui luật của tự nhiên và thượng đế đã ban cho họ, thì sự tôn trọng đầy đủ đối với các quan điểm của nhân loại đòi hỏi họ phải tuyên bố những nguyên do dẫn họ đến sự biệt lập đó.

Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Rằng để đảm bảo cho những quyền lợi này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của họ.

Thật vậy, sự thận trọng sẽ buộc người ta hiểu rõ rằng một chính quyền đã được thiết lập qua một thời gian dài thì không nên thay đổi chỉ vì những lý do đơn giản, nhất thời. Mọi kinh nghiệm đều đã chứng tỏ điều đó, rằng khi cái xấu còn trong chừng mực chịu đựng nổi, thì nhân loại dễ cam chịu nó, hơn là dám tự trao cho mình quyền loại bỏ những thể chế mà họ đã quen thuộc. Nhưng khi hàng loạt các hành vi lạm quyền và chiếm đoạt theo đuổi những mục tiêu giống nhau, lộ rõ ý đồ áp chế họ dưới ách chuyên quyền độc đoán, thì họ có quyền và có bổn phận phải lật đổ chính quyền đó và bổ nhiệm những chiến sĩ mới để bảo vệ nền an ninh của họ trong tương lai.

Những thuộc địa này đã từng phải cắn răng chịu đựng, nhưng bây giờ đã đến lúc buộc họ phải xóa bỏ thể chế chính quyền cũ. Lịch sử của vua nước Anh hiện nay là lịch sử của những nỗi đau thương và sự tước đoạt triền miên, tất cả đều nhằm mục đích trực tiếp là thiết lập ách chuyên chế bạo ngược ở những bang này.

Để chứng minh cho điều này, ta hãy để cho các sự việc tự nó lên tiếng với cả thế gian ngay thẳng. Ông ta đã từ chối không phê chuẩn một số đạo luật, tốt đẹp và cần thiết nhất đối với lợi ích của công chúng. Ông ta đã cấm đoán không cho các viên thống đốc thông qua những đạo luật mang tính cấp bách và bức xúc, hoặc đình chỉ việc thực thi những đạo luật này để chờ được ông phê chuẩn và trong khi đình chỉ như vậy, ông đã hoàn toàn bỏ mặc, không còn bận tâm về chúng nữa.

Ông ta đã từ chối không thông qua những đạo luật về cư trú của những vùng dân cư lớn, trừ phi đám dân này từ bỏ quyền đại diện trong cơ quan lập pháp, một quyền vô cùng quí giá đối với họ nhưng lại rất đáng sợ đối với những tên bạo chúa. Ông ta đã triệu họp các cơ quan lập pháp ở những địa điểm không bình thường, không tiện nghi, cách xa những kho lưu giữ hồ sơ công cộng và chỉ nhằm mục đích duy nhất là làm cho họ do mệt mỏi mà phải tuân theo các chủ trương của ông ta. Ông ta đã nhiều lần giải tán các hạ nghị viện vì đã cương quyết chống lại sự xâm phạm của ông đối với các quyền của nhân dân. Rồi sau khi giải tán, một thời gian dài ông ta đã từ chối không cho bầu lại những cơ quan này, do đó những quyền lập pháp không gì xóa bỏ được đã được trao lại cho dân chúng thực thi.

Cùng lúc đó, nhà nước đứng trước các nguy cơ về ngoại xâm và nội loạn. Ông ta đã ra sức ngăn cản việc tăng dân số ở các bang này. Với mục đích đó, ông ngăn cản việc thực hiện luật nhập quốc tịch cho người nước ngoài, từ chối không thông qua những đạo luật khác khuyến khích nhập cư và tăng thêm các điều kiện đối với quyền sở hữu đất đai. Ông ta đã ngăn cản việc thực thi công lý bằng cách từ chối không thông qua những đạo luật thiết lập các cơ quan tư pháp. Ông ta đã buộc các quan tòa phải lệ thuộc vào ý chí của ông bằng những qui định về nhiệm kỳ cũng như các khoản lương bổng trả cho họ.

Ông ta đã lập ra rất nhiều cơ quan mới và bổ nhiệm vào đó vô số những quan lại mới để xách nhiễu dân chúng và vơ vét tài sản của họ. Trong những thời kỳ hòa bình ông ta vẫn duy trì những đội quân thường trực trên đất nước ta mà không được sự đồng ý của các cơ quan lập pháp của chúng ta. Ông ta đã tác động để cho ngành quân sự độc lập và vượt lên trên quyền lực dân sự. Ông ta đã cùng với một số đối tượng khác buộc chúng ta phải tuân theo nền pháp quyền xa lạ với hiến pháp của chúng ta và không được luật pháp của chúng ta công nhận. Rồi ông ta phê chuẩn những đạo luật giả dối sau đây:

– Cho phép những đội quân có võ trang đông đảo đồn trú trên đất nước ta.

– Qua những phiên tòa giả hiệu, che chở cho chúng khỏi bị trừng phạt trước hậu quả của những vụ sát hại dân cư ở các bang này.

– Cắt đứt những quan hệ thương mại giữa chúng ta với các khu vực khác trên thế giới. áp đặt các khoản thuế khóa mà không được chúng ta đồng ý. Trong nhiều trường hợp, tước đoạt của chúng ta quyền được xét xử trước đoàn hội thẩm.

– Đưa chúng ta sang phía bên kia đại dương để xét xử về các tội trạng không có thật.

– Xóa bỏ thể chế tự do của luật pháp nước Anh ở một tỉnh lân cận và thiết lập ở đó một chính quyền độc đoán; rồi mở rộng ranh giới, coi đó là mẫu mực và công cụ thích hợp để du nhập ách cai trị chuyên chế vào các thuộc địa này.

– Tước đoạt hiến chương của chúng ta, huỷ bỏ những bộ luật giá trị của chúng ta và thay đổi một cách căn bản những thể chế chính quyền của chúng ta.

– Đình chỉ các cơ quan lập pháp của chúng ta rồi tự tuyên bố là có quyền lập pháp cho chúng ta trong mọi trường hợp.

– Ông ta đã từ bỏ chính phủ ở đây và tuyên bố rằng chúng ta không còn được ông che chở và bảo vệ, rồi tiến hành cuộc chiến tranh chống lại chúng ta.

– Ông ta đã vơ vét biển cả, tàn phá các bờ biển, thiêu đốt các thị trấn, huỷ hoại sinh mạng của chúng ta.

– Trong thời gian này, ông ta đang đưa sang những đội quân lớn gồm các lính đánh thuê nước ngoài để thực thi các công việc giết chóc, tàn phá và bạo ngược đã được bắt đầu với những cảnh tượng tàn ác và xảo trá mà ngay cả trong thời đại dã man nhất cũng khó mà sánh được, ông ta hoàn toàn không xứng đáng với người đứng đầu của một quốc gia văn minh.

– Ông ta đã cưỡng ép các công dân của chúng ta bị bắt ngoài biển khơi phải cầm súng chống lại đất nước mình, trở thành những đao phủ giết hại bạn bè và anh em mình, hoặc buộc họ phải tự giết hại mình.

– Ông ta đã kích động những cuộc phiến loạn trong nội bộ chúng ta và cố công đưa vào vùng dân cư ở các miền biên cương nước ta sự man rợ tàn bạo kiểu Indian mà các hình thức chiến trận khét tiếng của nó chính là sự huỷ diệt không phân biệt lứa tuổi, giới tính và điều kiện sinh sống.

Trong các giai đoạn xảy ra tình trạng áp bức như vậy, chúng ta đều có kiến nghị yêu cầu bồi thường với lời lẽ hết sức khiêm nhường, nhưng những kiến nghị lặp đi lặp lại của chúng ta chỉ được đáp lại bằng những nỗi đau xót liên tiếp. Một ông hoàng với tính cách được thể hiện qua các hành vi mà ta chỉ có thể gọi đúng tên là bạo chúa, thì không xứng đáng là người cai trị của một dân tộc tự do.

Không phải chúng ta không muốn lưu ý các bạn của chúng ta ở nước Anh. Đã nhiều lần chúng ta cảnh báo họ về những ý đồ của các cơ quan lập pháp của họ muốn bành trướng quyền tài phán không thích hợp sang đất nước chúng ta. Chúng ta đã nhắc nhở họ về tình trạng nhập cư và cư trú của chúng ta ở nơi đây. Chúng ta đã dựa vào ý thức công bằng, lòng hào hiệp và cả những mối liên hệ ruột thịt giữa đôi bên để kêu gọi họ từ bỏ những cuộc chiếm đoạt đã gây cản trở cho mối quan hệ và giao tiếp giữa hai phía. Họ đã không thèm lắng nghe tiếng nói của chính nghĩa lẫn tình máu mủ. Vì vậy, chúng ta phải đi tới đối xử với họ giống như mọi người khác trong nhân loại: trong hoà bình là bè bạn, trong chiến tranh là kẻ thù.

Vì vậy, chúng ta, những đại biểu dự Đại hội của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ yêu cầu các trọng tài tối cao của thế giới hãy công nhận những ý đồ chính đáng của chúng ta trong việc nhân danh và thực thi quyền lực của nhân dân có thiện chí ở các thuộc địa này, trịnh trọng công khai và tuyên bố rằng các thuộc địa liên minh với nhau này đã và có quyền phải là Quốc gia Tự do và Độc lập, rằng họ từ bỏ mọi sự trung thành đối với vương miện của Anh Quốc, rằng những liên hệ chính trị giữa họ với nước Anh đã và phải hoàn toàn bị xóa bỏ, rằng với tư cách là Quốc gia Tự do và Độc lập, họ hoàn toàn có quyền tiến hành chiến tranh, ký kết hiệp ước hòa bình, xây dựng liên minh, thiết lập quan hệ thương mại và thực thi mọi công việc thuộc quyền của những Quốc gia Độc lập. Vững tin vào sự bảo hộ thiêng liêng của thượng đế, chúng ta nguyện cùng hiến dâng tính mạng, tài sản và danh dự thiêng liêng của mình để bảo đảm cho bản tuyên ngôn này.

Nguồn: https://www.thm.vn/du-hoc/du-hoc-my/gioi-thieu-my/ban-tuyen-ngon-doc-lap-cua-hoa-ky

Tại QUỐC HỘI, ngày 4 tháng Bảy năm 1776.

Bản Tuyên ngôn nhất trí của mười ba Hợp bang Mỹ châu

Trong tiến trình phát triển của nhân loại, khi một dân tộc nào đó cần thiết phải xóa bỏ những mối liên kết chính trị giữa họ với một dân tộc khác và khẳng định trước các lực lượng trên toàn trái đất vị thế độc lập và bình đẳng mà các quy luật của tự nhiên và thượng đế đã ban cho họ, thì sự tôn trọng đầy đủ đối với các quan điểm của nhân loại đòi hỏi họ phải tuyên bố những nguyên do dẫn họ đến sự biệt lập đó.

Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc—Rằng để đảm bảo cho những quyền lợi này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của họ. Thật vậy, sự thận trọng sẽ buộc người ta hiểu rõ rằng một chính quyền đã được thiết lập qua một thời gian dài thì không nên thay đổi chỉ vì những lý do đơn giản, nhất thời. Mọi kinh nghiệm đều đã chứng tỏ điều đó, rằng khi cái xấu còn trong chừng mực chịu đựng nổi, thì nhân loại dễ cam chịu nó, hơn là dám tự trao cho mình quyền loại bỏ những thể chế mà họ đã quen thuộc. Nhưng khi hàng loạt các hành vi lạm quyền và chiếm đoạt theo đuổi những mục tiêu giống nhau, lộ rõ ý đồ áp chế họ dưới ách chuyên quyền độc đoán, thì họ có quyền và có bổn phận phải lật đổ chính quyền đó và bổ nhiệm những chiến sĩ mới để bảo vệ nền an ninh của họ trong tương lai. Những thuộc địa này đã từng phải cắn răng chịu đựng, nhưng bây giờ đã đến lúc buộc họ phải xóa bỏ thể chế chính quyền cũ. Lịch sử của vua nước Anh hiện nay là lịch sử của những nỗi đau thương và sự tước đoạt triền miên, tất cả đều nhằm mục đích trực tiếp là thiết lập ách chuyên chế bạo ngược ở những bang này. Ðể chứng minh cho điều này, ta hãy để cho các sự việc tự nó lên tiếng với cả thế gian ngay thẳng.

Ông ta đã từ chối không phê chuẩn một số đạo luật, tốt đẹp và cần thiết nhất đối với lợi ích của công chúng.

Ông ta đã cấm đoán không cho các viên thống đốc thông qua những đạo luật mang tính cấp bách và bức xúc, hoặc đình chỉ việc thực thi những đạo luật này để chờ được ông phê chuẩn và trong khi đình chỉ như vậy, ông đã hoàn toàn bỏ mặc, không còn bận tâm về chúng nữa.

Ông ta đã từ chối không thông qua những đạo luật về cư trú của những vùng dân cư lớn, trừ phi đám dân này từ bỏ quyền đại diện trong cơ quan lập pháp, một quyền vô cùng quí giá đối với họ nhưng lại rất đáng sợ đối với những tên bạo chúa.

Ông ta đã triệu họp các cơ quan lập pháp ở những địa điểm không bình thường, không tiện nghi, cách xa những kho lưu giữ hồ sơ công cộng và chỉ nhằm mục đích duy nhất là làm cho họ do mệt mỏi mà phải tuân theo các chủ trương của ông ta.

Ông ta đã nhiều lần giải tán các hạ nghị viện vì đã cương quyết chống lại sự xâm phạm của ông đối với các quyền của nhân dân.

Rồi sau khi giải tán, một thời gian dài ông ta đã từ chối không cho bầu lại những cơ quan này, do đó những quyền lập pháp không gì xóa bỏ được đã được trao lại cho dân chúng thực thi. Cùng lúc đó, nhà nước đứng trước các nguy cơ về ngoại xâm và nội loạn.

Ông ta đã ra sức ngăn cản việc tăng dân số ở các bang này. Với mục đích đó, ông ngăn cản việc thực hiện luật nhập quốc tịch cho người nước ngoài, từ chối không thông qua những đạo luật khác khuyến khích nhập cư và tăng thêm các điều kiện đối với quyền sở hữu đất đai.

Ông ta đã ngăn cản việc thực thi công lý bằng cách từ chối không thông qua những đạo luật thiết lập các cơ quan tư pháp.

Ông ta đã buộc các quan tòa phải lệ thuộc vào ý chí của ông bằng những qui định về nhiệm kỳ cũng như các khoản lương bổng trả cho họ.
Ông ta đã lập ra rất nhiều cơ quan mới và bổ nhiệm vào đó vô số những quan lại mới để xách nhiễu dân chúng và vơ vét tài sản của họ.

Trong những thời kỳ hòa bình ông ta vẫn duy trì những đội quân thường trực trên đất nước ta mà không được sự đồng ý của các cơ quan lập pháp của chúng ta.

Ông ta đã tác động để cho ngành quân sự độc lập và vượt lên trên quyền lực dân sự.

Ông ta đã cùng với một số đối tượng khác buộc chúng ta phải tuân theo nền pháp quyền xa lạ với hiến pháp của chúng ta và không được luật pháp của chúng ta công nhận. Rồi ông ta phê chuẩn những đạo luật giả dối sau đây:

Cho phép những đội quân có võ trang đông đảo đồn trú trên đất nước ta:

Qua những phiên tòa giả hiệu, che chở cho chúng khỏi bị trừng phạt trước hậu quả của những vụ sát hại dân cư ở các bang này:

Cắt đứt những quan hệ thương mại giữa chúng ta với các khu vực khác trên thế giới:

Đặt các khoản thuế khóa mà không được chúng ta đồng ý:

Trong nhiều trường hợp, tước đoạt của chúng ta quyền được xét xử trước đoàn hội thẩm:
Đưa chúng ta sang phía bên kia đại dương để xét xử về các tội trạng không có thật:

Xóa bỏ thể chế tự do của luật pháp nước Anh ở một tỉnh lân cận và thiết lập ở đó một chính quyền độc đoán; rồi mở rộng ranh giới, coi đó là mẫu mực và công cụ thích hợp để du nhập ách cai trị chuyên chế vào các thuộc địa này:

Tước đoạt hiến chương của chúng ta, huỷ bỏ những bộ luật giá trị của chúng ta và thay đổi một cách căn bản những thể chế chính quyền của chúng ta:

Đình chỉ các cơ quan lập pháp của chúng ta rồi tự tuyên bố là có quyền lập pháp cho chúng ta trong mọi trường hợp.

Ông ta đã từ bỏ chính phủ ở đây và tuyên bố rằng chúng ta không còn được ông che chở và bảo vệ, rồi tiến hành cuộc chiến tranh chống lại chúng ta.

Ông ta đã vơ vét biển cả, tàn phá các bờ biển, thiêu đốt các thị trấn, huỷ hoại sinh mạng của nhân dân chúng ta.

Trong thời gian này, ông ta đang đưa sang những đội quân lớn gồm các lính đánh thuê nước ngoài để thực thi các công việc giết tróc, tàn phá và bạo ngược đã được bắt đầu với những cảnh tượng tàn ác và xảo trá mà ngay cả trong thời đại dã man nhất cũng khó mà sánh được, ông ta hoàn toàn không xứng đáng với người đứng đầu của một quốc gia văn minh.

Ông ta đã cưỡng ép các công dân của chúng ta bị bắt ngoài biển khơi phải cầm súng chống lại đất nước mình, trở thành những đao phủ giết hại bạn bè và anh em mình, hoặc buộc họ phải tự giết hại mình.

Ông ta đã kích động những cuộc phiến loạn trong nội bộ chúng ta và cố công đưa vào vùng dân cư ở các miền biên cương nước ta sự man rợ tàn bạo kiểu Indian mà các hình thức chiến trận khét tiếng của nó chính là sự huỷ diệt không phân biệt lứa tuổi, giới tính và điều kiện sinh sống.

Trong các giai đoạn xảy ra tình trạng áp bức như vậy, chúng ta đều có kiến nghị yêu cầu bồi thường với lời lẽ hết sức khiêm nhường, nhưng những kiến nghị lặp đi lặp lại của chúng ta chỉ được đáp lại bằng những nỗi đau xót liên tiếp. Một ông hoàng với tính cách được thể hiện qua các hành vi mà ta chỉ có thể gọi đúng tên là bạo chúa, thì không xứng đáng là người cai trị của một dân tộc tự do.

Không phải chúng ta không muốn lưu ý các bạn của chúng ta ở nước Anh. Ðã nhiều lần chúng ta cảnh báo họ về những ý đồ của các cơ quan lập pháp của họ muốn bành trướng quyền tài phán không thích hợp sang đất nước chúng ta. Chúng ta đã nhắc nhở họ về tình trạng nhập cư và cư trú của chúng ta ở nơi đây. Chúng ta đã dựa vào ý thức công bằng, lòng hào hiệp và cả những mối liên hệ ruột thịt giữa đôi bên để kêu gọi họ từ bỏ những cuộc chiếm đoạt đã gây cản trở cho mối quan hệ và giao tiếp giữa hai phía. Họ đã không thèm lắng nghe tiếng nói của chính nghĩa lẫn tình máu mủ. Vì vậy, chúng ta phải đi tới một kết luận tất yếu là tuyên bố cắt đứt quan hệ với họ và đối xử với họ giống như mọi người khác trong nhân loại: trong hoà bình là bè bạn, trong chiến tranh là kẻ thù.

Vì vậy, chúng ta, những đại biểu dự Ðại hội của HỢP CHÚNG QUỐC HOA KỲ yêu cầu các trọng tài tối cao của thế giới hãy công nhận những ý đồ chính đáng của chúng ta trong việc nhân danh và thực thi quyền lực của nhân dân có thiện chí ở các thuộc địa này, trịnh trọng công khai và tuyên bố rằng các thuộc địa liên minh với nhau này đã và có quyền phải là Quốc gia Tự do và Ðộc lập; rằng họ từ bỏ mọi sự trung thành đối với vương miện của Anh Quốc, rằng những liên hệ chính trị giữa họ với nước Anh đã và phải hoàn toàn bị xóa bỏ, rằng với tư cách là Quốc gia Tự do và Ðộc lập, họ hoàn toàn có quyền tiến hành chiến tranh, ký kết hiệp ước hòa bình, xây dựng liên minh, thiết lập quan hệ thương mại và thực thi mọi công việc thuộc quyền của những Quốc gia Ðộc lập. Vững tin vào sự bảo hộ thiêng liêng của thượng đế, chúng ta nguyện cùng hiến dâng tính mạng, tài sản và danh dự thiêng liêng của mình để bảo đảm cho bản tuyên ngôn này.

Nguồn: https://vi.wikisource.org/wiki/Tuyên_ngôn_Độc_lập_Hoa_Kỳ

On Book Collectors — Seneca

Seneca


On Book Collectors
Seneca
Translated by John Willis Clar

Outlay upon studies, best of all outlays, is reasonable so long only as it is kept within certain limits. What is the use of books and libraries innumerable, if scarce in a lifetime the master reads the titles? A student is burdened by a crowd of authors, not instructed; and it is far better to devote yourself to a few, than to lose your way among a multitude.

Forty thousand books were burnt at Alexandria. I leave others to praise this splendid monument of royal opulence, as for example Livy, who regards it as ‘a noble work of royal taste and royal thoughtfulness.’ It was not taste, it was not thoughtfulness, it was learned extravagance—nay not even learned, for they had bought their books for the sake of show, not for the sake of learning—just as with many, who are ignorant even of the lowest branches of learning, books are not instruments of study, but ornaments of dining-rooms. Procure then as many books as will suffice for use; but not a single one for show. You will replay: ‘Outlay on such objects is preferable to extravagance on plate or paintings.’ Excess in all directions is bad. Why should you excuse a man who wishes to possess book-presses inlaid with arbor-vitae wood or ivory; who gathers together masses of authors either unknown or discredited; who yawns among his thousands of books; and who derives his chief delight from their edges and their tickets?

You will find then in the libraries of the most arrant idlers all that orators or historians have written—book-cases built up as high as the ceiling. Nowadays a library takes rank with a bathroom as a necessary ornament of a house. I could forgive such ideas, if they were due to extravagant desire for learning. As it is, these productions of men whose genius we revere, paid for at a high price, with their portraits ranged in line above them, are got together to adorn and beautify a wall.

Source: https://www.historyofinformation.com/detail.php?id=2676


Về Những Kẻ Sưu Tập Sách
Seneca
Google dịch

Chi phí cho việc học tập — khoản đầu tư xứng đáng nhất — chỉ thực sự hợp lý khi được giữ trong những giới hạn nhất định. Sách vở và thư viện nhiều vô kể nào có ích gì, nếu cả đời người ta cũng chẳng đọc nổi dù chỉ là tựa đề của chúng? Người học sẽ bị quá tải bởi vô số tác giả thay vì thực sự được chỉ dẫn; thà rằng chuyên tâm vào một vài người còn hơn là lạc lối giữa muôn vàn cái tên.

Bốn mươi nghìn cuốn sách đã bị thiêu rụi tại Alexandria. Tôi xin nhường lời ca tụng công trình tráng lệ thể hiện sự xa hoa vương giả này cho người khác—chẳng hạn như Livy, người coi đó là “một tác phẩm cao quý, thể hiện gu thẩm mỹ và sự chu đáo của bậc quân vương.” Đó chẳng phải là gu thẩm mỹ hay sự chu đáo gì cả; đó chỉ là thói phô trương sự uyên bác—mà thực ra cũng chẳng phải uyên bác, bởi họ mua sách cốt để trưng bày chứ đâu phải để trau dồi tri thức. Cũng giống như bao kẻ dốt nát chẳng am hiểu lấy một kiến ​​thức sơ đẳng nhất, họ coi sách không phải là công cụ để học tập mà chỉ là vật trang trí cho phòng ăn. Vậy nên, hãy chỉ sắm sửa số lượng sách vừa đủ dùng, đừng mua lấy một cuốn nào chỉ để phô trương. Bạn sẽ phản bác rằng: “Chi tiền cho sách vở vẫn hơn là phung phí vào đồ bạc hay tranh ảnh.” Nhưng sự thái quá ở bất cứ phương diện nào cũng đều không tốt. Làm sao có thể biện minh cho kẻ muốn sở hữu những chiếc tủ sách khảm gỗ tuyết tùng hay ngà voi; kẻ thu gom la liệt các tác phẩm của những tác giả vô danh hoặc chẳng có chút uy tín nào; kẻ ngồi ngáp dài giữa hàng nghìn cuốn sách; và kẻ chỉ tìm thấy niềm vui thú chủ yếu ở mép sách hay những tấm nhãn dán trên gáy sách?

Bạn sẽ bắt gặp trong thư viện của những kẻ lười biếng nhất mọi tác phẩm do các nhà hùng biện hay sử gia viết ra—những tủ sách xếp cao ngất tận trần nhà. Ngày nay, thư viện được coi trọng ngang hàng với phòng tắm, như một món đồ trang trí thiết yếu cho ngôi nhà. Tôi có thể châm chước cho quan niệm ấy nếu nó xuất phát từ lòng khao khát tri thức mãnh liệt. Đằng này, những tác phẩm của các bậc thiên tài mà ta hằng ngưỡng mộ—vốn được mua với giá đắt đỏ và trưng bày cùng chân dung tác giả treo ngay phía trên—lại chỉ được quy tụ về đây cốt để tô điểm và làm đẹp cho bức tường mà thôi.

Về Những Người Sưu Tầm Sách
Seneca
ChatGPT dịch

Chi tiêu cho việc học tập – khoản chi đáng giá nhất trong mọi khoản chi – chỉ hợp lý khi nó được giữ trong những giới hạn nhất định. Sách vở và thư viện chất đầy thì có ích gì, nếu suốt cả đời người chủ cũng chỉ đọc lướt qua các nhan đề? Người học không được khai sáng bởi một đám đông tác giả, mà chỉ bị họ đè nặng. Tốt hơn nhiều là chuyên tâm vào một số ít tác giả, còn hơn lạc lối giữa vô vàn người.

Bốn mươi nghìn cuốn sách đã bị thiêu rụi tại Alexandria. Tôi xin nhường cho người khác ca ngợi công trình lộng lẫy ấy như một biểu tượng của sự giàu sang vương giả; chẳng hạn Livy, người xem đó là “một công trình cao quý thể hiện gu thẩm mỹ và sự chu đáo của bậc quân vương.” Theo tôi, đó không phải là thẩm mỹ, cũng chẳng phải là sự chu đáo; mà là sự phung phí dưới vỏ bọc học vấn – thậm chí còn không xứng gọi là học vấn, bởi họ mua sách để phô trương chứ không phải để học hỏi. Cũng giống như nhiều kẻ chẳng hiểu nổi ngay cả những kiến thức sơ đẳng nhất, nhưng đối với họ, sách không phải là công cụ học tập mà chỉ là vật trang trí cho phòng ăn. Vậy nên, hãy sắm đủ số sách để sử dụng; đừng mua lấy một cuốn nào chỉ để trưng bày. Có người sẽ đáp lại: “Chi tiền vào sách vẫn còn tốt hơn là hoang phí vào đồ bạc hay tranh vẽ.” Nhưng sự thái quá trong bất cứ điều gì cũng đều đáng chê trách. Vì sao phải bào chữa cho kẻ muốn sở hữu những tủ sách khảm gỗ bách hay ngà voi; kẻ gom góp vô số tác giả vô danh hoặc đã mất uy tín; kẻ ngáp dài giữa hàng nghìn cuốn sách của mình, và niềm vui lớn nhất lại đến từ những mép sách được cắt gọn cùng các nhãn ghi trên gáy?

Bởi thế, trong thư viện của những kẻ lười biếng nhất, bạn vẫn sẽ thấy đầy đủ mọi tác phẩm của các nhà hùng biện và sử gia; những giá sách được dựng cao chạm tận trần nhà. Ngày nay, thư viện đã được xem như phòng tắm – một vật trang trí không thể thiếu của một ngôi nhà. Tôi có thể tha thứ cho lối suy nghĩ ấy, nếu nó xuất phát từ một khát vọng học hỏi quá mức. Nhưng thực tế không phải vậy. Những tác phẩm của các bậc thiên tài mà chúng ta kính trọng, được mua với giá đắt đỏ và xếp cùng chân dung tác giả phía trên, chỉ được sưu tập để tô điểm và làm đẹp cho một bức tường.

Stone Aesthetics (From Shadows of Delicate Dreams) — Zhang Chao

Image
Page from the Ten Bamboo Studio Manual of Painting and Calligraphy, illustrated by Hu Zhengyan

Stone Aesthetics
(From Shadows of Delicate Dreams)
Zhang Chao
Translated by D. Smith

The stones by the plum tree should be ancient; those beneath the pine should be rugged; those beside the bamboo should be slender; and those in a pot should be delicate.

Source: Zhang Chao, Shadows of Delicate Dreams, translated by D. Smith, Blind Cyclops Media, 2025, p. 23


Illustration: page from the Ten Bamboo Studio Manual of Painting and Calligraphy, illustrated by Hu Zhengyan

https://i.cafa.edu.cn/waterprint/en/enancieb/?ai=300001

梅邊之石,宜古; 松下之石,宜拙; 竹 傍 之 石, 宜 瘦 ; 盆 內 之 石, 宜 巧。

Mai biên chi thạch nghi cổ, tùng hạ chi thạch nghi chuyết, trúc bạng chi thạch nghi sấu, bồn nội chi thạch nghi xảo.

Mỹ Học của Đá Cảnh
(Trích U Mộng Ảnh)
Trương Triều
Châu Hải Đường dịch

Đá ở bên mai nên cổ kính, đá ở dưới tùng nên thô ráp, đá ở cạnh trúc nên thanh gầy, đá ở trong bồn nên tinh xảo.

Nguồn: Trương Triều, U Mộng Ảnh, Châu Hải Đường dịch, nxb Hội Nhà Văn, 2022, tr. 119

Huỳnh Ngọc Chiến dịch

Đá đặt bên gốc mai nên cổ kính, đá đặt dưới gốc thông nên thô, đá đặt bên gốc trúc nên gầy, đá đặt trong bồn nên tinh xảo.

Nguồn: U Mộng Ảnh – Trương Trào #77
https://huynhngocchien.com/u-mong-anh-tap-thuong/

Minh họa: Hồ Chính Ngôn, Thập Trúc Trai Thư Hoạ Phổ, Mộc Bản

https://i.cafa.edu.cn/waterprint/en/enancieb/?ai=300001

Sounds (Excerpt) — Henry David Thoreau

Image
Matsubara Naoko, Walden Pond, Color woodblock print

Sounds (Excerpt)
(From Walden)
Henry David Thoreau

I did not read books the first summer; I hoed beans. Nay, I often did better than this. There were times when I could not afford to sacrifice the bloom of the present moment to any work, whether of the head or hands. I love a broad margin to my life. Sometimes, in a summer morning, having taken my accustomed bath, I sat in my sunny doorway from sunrise till noon, rapt in a revery, amidst the pines and hickories and sumachs, in undisturbed solitude and stillness, while the birds sing around or flitted noiseless through the house, until by the sun falling in at my west window, or the noise of some traveller’s wagon on the distant highway, I was reminded of the lapse of time. I grew in those seasons like corn in the night, and they were far better than any work of the hands would have been. They were not time subtracted from my life, but so much over and above my usual allowance. I realized what the Orientals mean by contemplation and the forsaking of works. For the most part, I minded not how the hours went. The day advanced as if to light some work of mine; it was morning, and lo, now it is evening, and nothing memorable is accomplished. Instead of singing like the birds, I silently smiled at my incessant good fortune. As the sparrow had its trill, sitting on the hickory before my door, so had I my chuckle or suppressed warble which he might hear out of my nest. My days were not days of the week, bearing the stamp of any heathen deity, nor were they minced into hours and fretted by the ticking of a clock; for I lived like the Puri Indians, of whom it is said that “for yesterday, to-day, and to-morrow they have only one word, and they express the variety of meaning by pointing backward for yesterday, forward for to-morrow, and overhead for the passing day.” This was sheer idleness to my fellow-townsmen, no doubt; but if the birds and flowers had tried me by their standard, I should not have been found wanting. A man must find his occasions in himself, it is true. The natural day is very calm, and will hardly reprove his indolence.

Source: https://www.gutenberg.org/files/205/205-h/205-h.htm

Matsubara Naoko, Walden Pond, Color woodblock print
https://www.artic.edu/artworks/182278/walden-pond


Âm Thanh (Trích)
(Từ tác phẩm Walden)
Henry David Thoreau
Hiếu Tân dịch

Tôi không đọc sách trong mùa hè đầu tiên; tôi bón đậu. Không, tôi thường làm tốt hơn thế. Có những lúc tôi không nỡ hi sinh cái rực rỡ của khoảnh khắc hiện tại cho bất kì công việc nào, chân tay hay trí óc. Tôi thích để một lề rộng [208] cho những trang đời tôi. Đôi khi, vào một buổi sáng mùa hè, sau khi tắm như thường lệ [209], tôi ngồi trên khung cửa dưới nắng từ sáng đến trưa, khoan khoái trong trầm tư mặc tưởng, giữa những cây thông, cây mại châu và cây sơn, trong cảnh cô tịch và bằng lặng, trong khi những con chim hót xung quanh hoặc bay vụt qua nhà, cho đến khi mặt trời lặn xuống qua cửa kính hướng tây nhà tôi, hay tiếng ồn của những toa khách từ xa vọng lại, nhắc tôi thời gian đã trôi đi. Trong những giờ ấy tôi lớn lên như cây ngô [210] trong đêm, và chúng có lợi hơn bất kì công việc tay chân nào. Chúng không phải là những quãng thời gian bị trừ đi khỏi cuộc sống của tôi, mà ở trên, cao thời gian thường nhật của tôi. Tôi nhận ra ý nghĩa của thiền định và vô vi của người phương Đông. Phần lớn tôi không để ý thời gian trôi qua như thế nào. Mặt trời như thể chiếu sáng cho công việc của tôi; vừa mới buổi sáng đó, thì lùa, đã buổi tối rồi, mà chẳng làm được việc gì đáng nhớ. Thay vì hót như chim, tôi im lặng cười với niềm hạnh phúc thường hằng. Như con chim sẻ có tiếng láy rền của nó, tôi ngồi trên cây mại châu trước cửa, tôi có cười lặng lẽ của tôi hay cố nén tiếng líu lo mà tôi nghe thấy từ trong tổ của tôi. Những ngày của tôi không phải là những ngày của tuần lễ, mang tên hiệu của bất cứ vị thần ngoại đạo nào [211], cũng không bị cắt ra thành những giờ và bị làm phiền bởi tiếng tích tắc của đồng hồ; vì tôi sống đơn giản như người Anhđiêng Puri [212], người ta nói về họ rằng “họ chỉ có một từ để chỉ ngày hôm qua, hôm nay, ngày mai, và họ phân biệt ý nghĩa khác nhau bằng cách chỉ ra đằng sau để nói hôm qua, chỉ ra trước để nói ngày mai, và chỉ lên trời để nói hôm nay”. Đối với những đồng hương của tôi thì đấy đúng là một sự lười nhác, nhưng nếu chim và hoa thử tôi bằng chuẩn mực của chúng, thì chúng sẽ không thấy là tôi kém, không làm được. Một người đàn ông phải biết tìm cơ hội trong chính bản thân mình, thật thế. Trong thiên nhiên ngày trôi đi rất êm đềm, và chẳng ai có thể trách ai lười nhác.

Chú thích (của dịch giả Hiếu Tân)

[208] Giống như ở sách, để ghi chú khi đọc, ở đây, để suy ngẫm.
[209] Sáng sớm tắm trên đầm Walden. Lưu ý ý nghĩa của tắm đối với Thoreau, xem chú thích 130.
[210] Đúng mùa, ngô lớn cực nhanh
[211] Ngày của tuần theo lịch Gregory, nguyên được đặt theo tên các vị thần trong thần thoại Hi-La, ví dụ: Thứ Năm (Thursday) là từ Zeus/Jupiter…
[212] Người Anhđiêng bản địa Brazil

Nguồn: https://thuvienhoasen.org/images/file/xUZ8zfDs2QgQAHBI/song-mot-minh-trong-rung-waden.pdf


Âm Thanh (Trích)
(Từ tác phẩm Walden)
Henry David Thoreau
Sửa từ bản dịch của Google

Mùa hè đầu tiên, tôi không đọc sách; tôi cuốc đậu. Thậm chí, tôi thường làm tốt hơn thế. Có những lúc tôi không thể hy sinh cái tuyệt diệu của hiện tại cho bất kỳ công việc nào, dù là trí óc hay tay chân. Tôi yêu thích một khoảng thời gian rảnh rỗi trong cuộc sống. Đôi khi, vào một buổi sáng mùa hè, sau khi tắm rửa như thường lệ, tôi ngồi ở cửa nhà đầy nắng từ lúc mặt trời mọc đến trưa, chìm đắm trong suy tư, giữa những cây thông, cây óc chó và cây sumac, trong sự tĩnh lặng và cô độc không bị quấy rầy, trong khi chim hót líu lo xung quanh hoặc bay lượn lặng lẽ qua nhà, cho đến khi ánh mặt trời chiếu vào cửa sổ phía tây của tôi, hoặc tiếng xe ngựa của một lữ khách nào đó trên con đường xa xôi, tôi mới nhận ra thời gian trôi qua. Tôi trưởng thành trong những lúc đó như ngô lớn lên trong đêm tối, và chúng tốt hơn nhiều so với bất kỳ công việc chân tay nào. Đó không phải là thời gian bị lấy đi khỏi cuộc đời tôi, mà là nhiều hơn rất nhiều so với thời gian thường nhật. Tôi hiểu được ý nghĩa của sự chiêm nghiệm và việc bỏ hết công việc của người phương Đông. Phần lớn thời gian, tôi không để ý đến việc thời gian trôi qua như thế nào. Ngày trôi qua như thể để soi sáng công việc nào đó của tôi; trời còn sáng, và kìa, giờ đã là tối, mà chẳng làm xong điều gì đáng nhớ. Thay vì hót líu lo như chim chóc, tôi lặng lẽ mỉm cười trước vận may bất tận của mình. Như chim sẻ hót líu lo trên cành cây óc chó trước cửa nhà tôi, tôi cũng có tiếng cười khúc khích hay tiếng hót khe khẽ mà nó có thể nghe thấy từ cái tổ của tôi. Ngày của tôi không phải là những ngày trong tuần, mang dấu ấn của bất kỳ vị thần ngoại đạo nào, cũng không bị chia nhỏ thành từng giờ và bị quấy rầy bởi tiếng tích tắc của đồng hồ; bởi vì tôi sống như người da đỏ Puri, người ta nói rằng “họ chỉ có một từ để nói hôm qua, hôm nay và ngày mai, và họ diễn tả sự đa dạng về ý nghĩa bằng cách chỉ về phía sau cho ngày hôm qua, về phía trước cho ngày mai, và chỉ lên trên đầu cho ngày đã qua.” Điều này chắc chắn là sự lười biếng đối với những người cùng thị trấn với tôi; nhưng nếu chim chóc và hoa lá thử thách tôi theo tiêu chuẩn của chúng, tôi sẽ không bị coi là thiếu sót. Đúng là con người phải tự tìm kiếm cơ hội cho mình. Ngày hôm đó thời tiết rất yên bình, và sẽ không trách móc sự lười biếng của anh ta.


Âm Thanh (Trích)
(Từ tác phẩm Walden)
Henry David Thoreau
ChatGPT dịch

Tôi đã không đọc sách trong mùa hè đầu tiên; tôi cuốc đậu. Tuy vậy, nhiều khi tôi còn làm tốt hơn thế. Có những lúc tôi không thể chấp nhận hy sinh vẻ tươi đẹp của khoảnh khắc hiện tại cho bất kỳ công việc nào, dù là trí óc hay tay chân. Tôi yêu một khoảng dư dả rộng rãi trong đời mình. Đôi khi, vào một buổi sáng mùa hè, sau khi tắm rửa như thường lệ, tôi ngồi nơi ngưỡng cửa đầy nắng của mình từ lúc mặt trời mọc đến trưa, đắm chìm trong mộng tưởng, giữa những cây thông, cây hồ đào và cây sơn, trong sự cô tịch và tĩnh lặng không bị quấy rầy, trong khi chim chóc hót vang xung quanh hoặc lặng lẽ bay qua nhà, cho đến khi ánh mặt trời chiếu vào cửa sổ phía tây, hoặc tiếng xe ngựa của một người lữ hành nào đó trên con đường xa vang đến, nhắc tôi rằng thời gian đã trôi qua. Trong những mùa ấy, tôi lớn lên như ngô mọc trong đêm, và chúng tốt hơn nhiều so với bất kỳ công việc tay chân nào có thể mang lại. Chúng không phải là thời gian bị trừ khỏi cuộc đời tôi, mà là phần thêm vào vượt trên mức bình thường của tôi. Tôi hiểu được điều mà người phương Đông gọi là sự chiêm nghiệm và từ bỏ hành động. Phần lớn thời gian, tôi chẳng bận tâm giờ giấc trôi qua thế nào. Ngày cứ trôi qua như thể để soi sáng một công việc nào đó của tôi; đó là buổi sáng, rồi kìa, giờ đã là buổi tối, mà chẳng có điều gì đáng nhớ được hoàn thành. Thay vì ca hát như chim, tôi lặng lẽ mỉm cười trước vận may không ngừng của mình. Như con chim sẻ cất tiếng líu lo khi đậu trên cây hồ đào trước cửa nhà tôi, thì tôi cũng có tiếng cười khe khẽ hay khúc ngân bị kìm nén mà nó có thể nghe thấy từ cái tổ của tôi. Những ngày của tôi không phải là những ngày trong tuần, mang dấu ấn của bất kỳ vị thần ngoại giáo nào, cũng không bị chia nhỏ thành từng giờ và bị quấy rầy bởi tiếng tích tắc của đồng hồ; bởi tôi sống như người da đỏ Puri, những người mà người ta nói rằng “đối với hôm qua, hôm nay và ngày mai họ chỉ có một từ duy nhất, và họ biểu đạt sự khác biệt bằng cách chỉ tay về phía sau cho hôm qua, phía trước cho ngày mai, và lên trên đầu cho ngày đang trôi qua.” Điều đó hẳn là sự nhàn rỗi thuần túy trong mắt những người cùng thị trấn với tôi; nhưng nếu chim chóc và hoa cỏ đánh giá tôi theo tiêu chuẩn của chúng, thì tôi hẳn không bị coi là thiếu sót. Con người phải tự tìm lấy cơ hội trong chính mình, điều đó là đúng. Một ngày tự nhiên vốn rất yên bình, và hầu như sẽ không khiển trách sự lười biếng của con người.

Minh hoạ: Matsubara Naoko, Walden Pond, tranh khắc gỗ màu

First Daiza

Image
“El Capitan”, WxHxD 11x15x8.5in, Trang Vo-Le & Phat Vo, Kern River stone. Photo by Eric Stoner

First Daiza
Phat Vo

Re-reading is what counts. All great authors I have ever read say that in one way or another. My important way of re-reading a good read in English is to translate it into Vietnamese to share with friends and family. Hiking into its heart is my usual way to re-read a majestic landscape. Making daiza (wooden base) is my intimate way to re-read a stone.

It all started with us learning to make a daiza for our uncut doha stone from the Kern River with Mas Nakajima at Mas and Janet’s home. Mas designed and carved most of the walnut daiza, and now it is our treasure for our suiseki which we named Dongpo, or The Eastern Slope, after the great Chinese literati Su Dongpo.

A few months later, Mas and Janet visited our home, and they immediately fell in love with our biggest Kern River stone. Years before on the bank of Kern River, we saw it, just revealing a little of its beautiful surface. We carried the 100-pound rock home. For no reason, we were so fond of it and displayed it in a big suiban in a prominent area in our home. The stone’s pear surface resembles a painting of rain falling, thus we referred to it as rain stone. It reminds us of a famous Basho’s haiku.

in early summer rain
the legs of the cranes
have become shorter
— Basho

Janet was very sick after the long trip and Mas was busy taking care of her. Even in that condition, Mas designed a daiza for our rain stone, and Janet named it El Capitan after the granite monolith in Yosemite National Park. Mas told us that in Japanese tradition, the daiza should be simple, austere, and dignified for such a stone. He also showed us several examples from various suiseki books and catalogs.

Almost a year later, I bought tools and materials, a big piece of walnut wood, and began to carve the daiza. For a month, every weekday after work, I worked on the daiza for about four hours, and worked whole days during weekends.

Working with this heavy stone was a struggle at first. Without prior woodworking experience, I kept wondering if I had enough tea in me to finish the seemingly unending task. After a while, it was very meditative, as from time to time I just thought of nothing but the stone and the soon-to-be-daiza. The smell of walnut wood reminded me of my time learning to make daiza with Mas. Close to the end, I enjoyed the beauty of the stone surface from different sides, and I was amazed at its dark bronze color, only shown at certain times of the day when the light was right. Making the daiza revealed more of the stone, and more of myself, to me. It tested my physical strength obviously, my patience, my focus, and my artistic eyes. I understood why Mas and Janet loved the stone. And I felt that I knew why Mas loved to make daiza for his stones.

We brought our El Capitan suiseki for the first time to the San Francisco Suiseki Exhibition in August 2017. All members of the suiseki club loved it. Mas especially could not keep his usual calmness, and his eyes were as happy as his broad smile, and he kept saying, “Wow!” When I pointed out to Mas some errors I made on the daiza, he told me not to worry, that the daiza was perfect for the stone.

The last time we met, August 2018, Mas asked us where we placed our El Capitan, and we told him it was at the exact same spot when he first saw it. We later added above the suiseki a calligraphy piece by the famous Zen Master Thich Nhat Hanh that he had given as a gift to his dear friend the painter Vo-Dinh. The calligraphy was in Vietname which says, “I have arrived, I am home.”

Source: Samuel Edge, Suiseki Stories — Stories About Suiseki from Avid Collectors, Lulu Publishing, 2025

“El Capitan”, WxHxD 11x15x8.5in, Trang Vo-Le & Phat Vo, Kern River stone. Photo by Eric Stoner

Cái đế gỗ đầu tiên
Võ Tấn Phát

Đọc lại mới là cốt yếu. Tất cả những tác giả lớn mà tôi đã đọc đều nói thế, bằng cách này hay cách khác. Cách quan trọng nhất để tôi đọc lại một tác phẩm đẹp bằng tiếng Anh, là dịch ra tiếng Việt để chia sẻ với bạn bè và người thân. Băng rừng lội suối vào tận tâm điểm, là cách thường lệ để tôi đọc lại một phong cảnh hùng vĩ. Chế tác một cái đế gỗ là cách mật thiết nhất để tôi đọc lại một hòn đá.

Tất cả bắt đầu từ việc chúng tôi học cách làm một chiếc đế gỗ cho viên đá doha (thổ pha) nguyên bản được tìm thấy ở sông Kern, dưới sự hướng dẫn của ông Mas Nakajima ngay tại tư gia của ông và bà Janet. Ông Mas đã tự tay thiết kế và chạm khắc phần lớn chiếc đế bằng gỗ walnut này; giờ đây, nó đã trở thành báu vật nâng đỡ viên thủy thạch của chúng tôi—tác phẩm mà chúng tôi đặt tên là Đông Pha, nhằm vinh danh đại văn hào Trung Hoa Tô Đông Pha.

Vài tháng sau, Mas và Janet ghé thăm nhà chúng tôi, và ngay lập tức họ “phải lòng” tảng đá lớn nhất của chúng tôi, tìm được từ sông Kern. Nhiều năm trước đó, khi lang thang bên bờ sông Kern, chúng tôi đã nhìn thấy tảng đá này, lúc ấy nó mới chỉ hé lộ một phần nhỏ bề mặt tuyệt đẹp. Chúng tôi đã khiêng hòn đá nặng 100 pound (45 kg) ấy về nhà. Không hiểu sao, chúng tôi lại vô cùng yêu thích nó, và đã đặt nó vào một chiếc thủy bồn lớn chứa cát, để tại một vị trí trang trọng trong nhà. Bề mặt hòn đá tựa như một bức tranh vẽ cảnh mưa rơi, chính vì thế chúng tôi gọi nó là đá mưa. Tảng đá ấy gợi nhắc chúng tôi nhớ đến một bài thơ Haiku nổi tiếng của thi hào Ba Tiêu.

mưa đầu mùa hạ
chân hạc
ngắn hơn
—Ba Tiêu

Janet đã bị bệnh nặng sau chuyến đi dài, và Mas bận rộn chăm sóc bà. Ngay cả trong tình cảnh đó, Mas vẫn nghĩ ngợi để thiết kế một chiếc đế cho viên đá mưa, và Janet đã đặt tên cho nó là El Capitan, theo tên khối đá hoa cương khổng lồ tại Công Viên Quốc gia Yosemite. Mas giải thích với chúng tôi rằng, theo truyền thống Nhật Bản, chiếc đế gỗ cho một viên đá như vậy cần phải thật đơn giản, mộc mạc và trang nghiêm. Ông cũng cho chúng tôi xem một vài ví dụ từ các cuốn sách và danh mục khác nhau về thủy thạch.

Gần một năm sau, tôi mua sắm dụng cụ, nguyên vật liệu cùng một khối gỗ walnut lớn, rồi bắt tay vào chạm khắc chiếc đế gỗ. Suốt một tháng trời, mỗi ngày sau giờ làm việc, tôi dành khoảng bốn tiếng đồng hồ để chế tác chiếc đế; còn vào những ngày cuối tuần, tôi làm việc trọn cả ngày.

Ban đầu, việc xử lý khối đá nặng trịch này quả là một thử thách gian nan. Vì chưa từng có kinh nghiệm làm mộc từ trước, tôi cứ tự hỏi liệu mình có đủ chất trà để hoàn thành công việc dường như bất tận này hay không. Tuy nhiên sau một thời gian, công việc này lại tựa như thiền định, vì thỉnh thoảng, tâm trí tôi hoàn toàn trống rỗng, chỉ đọng lại hình ảnh của khối đá và chiếc đế gỗ sắp sửa thành hình. Mùi hương của gỗ walnut gợi nhắc tôi nhớ về quãng thời gian học làm đế cùng thầy Mas. Khi công việc dần đi đến hồi kết, tôi say mê chiêm ngưỡng vẻ đẹp của bề mặt khối đá từ nhiều góc độ khác nhau, và vô cùng kinh ngạc trước sắc màu đồng sẫm của nó, một gam màu chỉ thực sự hiện hữu vào những thời điểm nhất định trong ngày, khi ánh sáng vừa đúng góc độ. Quá trình chế tác chiếc đế gỗ không chỉ giúp tôi khám phá thêm nhiều nét đẹp tiềm ẩn của khối đá, mà còn giúp tôi thấu hiểu sâu sắc hơn về chính bản thân mình. Công việc này hiển nhiên đã thử thách sức mạnh thể chất của tôi, cũng như sự kiên nhẫn, khả năng tập trung và con mắt nghệ thuật của tôi. Giờ đây, tôi đã hiểu vì sao thầy Mas và bà Janet lại yêu mến hòn đá này đến thế. Và tôi cảm thấy dường như đã hiểu được vì sao thầy Mas lại đam mê chế tác những chiếc đế gỗ cho các hòn đá của ông.

Vào tháng 8 năm 2017, chúng tôi lần đầu tiên mang viên thủy thạch El Capitan đến tham dự Triển lãm San Francisco Thuỷ Thạch Hội. Tất cả các thành viên trong hội thủy thạch đều vô cùng yêu thích tác phẩm này. Đặc biệt là Mas đã không thể giữ được vẻ điềm tĩnh thường ngày, và ánh mắt ông hân hoan cùng nụ cười rạng rỡ, và ông cứ liên tục thốt lên: “Chà!” Khi tôi chỉ cho Mas thấy một vài sai sót mà mình đã mắc phải trong quá trình làm chiếc đế, ông bảo tôi đừng bận tâm, rằng chiếc đế ấy hoàn hảo cho viên đá.

Lần cuối chúng tôi gặp nhau, vào tháng 8 năm 2018, thầy Mas hỏi chúng tôi đặt viên đá El Capitan ở đâu, và chúng tôi đáp rằng nó vẫn nằm nguyên tại chính vị trí ông đã nhìn thấy lần đầu tiên. Sau này, chúng tôi đã treo phía trên viên thủy thạch ấy một bức thư pháp của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, viết tặng cho người bạn thân là họa sĩ Võ Đình. Bức thư pháp bằng tiếng Việt, đề chữ: “đã về, đã tới.”

Nguồn: Samuel Edge, Suiseki Stories — Stories About Suiseki from Avid Collectors, Lulu Publishing, 2025

Landscapes of the Four Seasons — Shitao

 

Image

Image

ImageImageImageImageImageImage
Landscapes of the Four Seasons
Shitao (Zhu Ruoji)

Shitao frequently employed the album format to give full play to his imaginative use of brush techniques and compositional designs. In this series of eight leaves, datable stylistically to the last decade of the artist’s life, he explores the theme of landscape. Working in a free, wet-ink manner, Shitao reveals his independence from conventional models and methods in these highly personal images. As he observed in his Recorded Sayings on Painting of about 1700:

Even if my brush does not resemble brush and my ink does not resemble ink and my painting does not resemble painting, I make sure that my self is always present in my work.

(Wen Fong, trans.)

Source: https://www.metmuseum.org/art/collection/search/49180

Tranh Sơn Thuỷ Bốn Mùa
Thạch Đào (Chu Nhược Cực)

Thạch Đào thường xuyên sử dụng những cuốn sổ tay để phát huy tối đa khả năng sáng tạo trong bút pháp và bố cục. Trong loạt tám tờ tranh này, có thể xác định niên đại dựa trên phong cách vào thập niên cuối đời của họa sĩ, ông khám phá chủ đề phong cảnh. Với lối vẽ phóng túng, sử dụng mực tươi, Thạch Đào thể hiện sự độc lập vượt khỏi các khuôn mẫu và phương pháp truyền thống trong những tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân này. Như ông nhận xét trong “Những ghi chép về hội họa” vào khoảng 1700:

Dù bút của tôi không giống bút, mực của tôi không giống mực, và tranh của tôi không giống tranh, tôi luôn đảm bảo rằng bản thân tôi luôn hiện diện trong tác phẩm của mình.

清 石濤(朱若極) 四季山水圖 冊
Thanh Thạch Đào (Chu Nhược Cực) Tứ Quý Sơn Thuỷ Đồ Sách

‘I Have a Dream’ — Martin Luther King Jr.

 

Image
MLK Jr.

‘I Have a Dream’
Martin Luther King Jr.

Five score years ago, a great American, in whose symbolic shadow we stand today, signed the Emancipation Proclamation. This momentous decree came as a great beacon light of hope to millions of Negro slaves who had been seared in the flames of withering injustice. It came as a joyous daybreak to end the long night of their captivity.

But 100 years later, the Negro still is not free. One hundred years later, the life of the Negro is still sadly crippled by the manacles of segregation and the chains of discrimination. One hundred years later, the Negro lives on a lonely island of poverty in the midst of a vast ocean of material prosperity. One hundred years later the Negro is still languished in the corners of American society and finds himself in exile in his own land. And so we’ve come here today to dramatize a shameful condition. In a sense we’ve come to our nation’s capital to cash a check.

When the architects of our republic wrote the magnificent words of the Constitution and the Declaration of Independence, they were signing a promissory note to which every American was to fall heir. This note was a promise that all men — yes, Black men as well as white men — would be guaranteed the unalienable rights of life, liberty and the pursuit of happiness.

It is obvious today that America has defaulted on this promissory note insofar as her citizens of color are concerned. Instead of honoring this sacred obligation, America has given the Negro people a bad check, a check which has come back marked insufficient funds.

But we refuse to believe that the bank of justice is bankrupt.

We refuse to believe that there are insufficient funds in the great vaults of opportunity of this nation. And so we’ve come to cash this check, a check that will give us upon demand the riches of freedom and the security of justice.

We have also come to this hallowed spot to remind America of the fierce urgency of now. This is no time to engage in the luxury of cooling off or to take the tranquilizing drug of gradualism.

Now is the time to make real the promises of democracy. Now is the time to rise from the dark and desolate valley of segregation to the sunlit path of racial justice. Now is the time to lift our nation from the quick sands of racial injustice to the solid rock of brotherhood. Now is the time to make justice a reality for all of God’s children.

It would be fatal for the nation to overlook the urgency of the moment. This sweltering summer of the Negro’s legitimate discontent will not pass until there is an invigorating autumn of freedom and equality. 1963 is not an end, but a beginning. Those who hope that the Negro needed to blow off steam and will now be content will have a rude awakening if the nation returns to business as usual.

There will be neither rest nor tranquility in America until the Negro is granted his citizenship rights. The whirlwinds of revolt will continue to shake the foundations of our nation until the bright day of justice emerges.

But there is something that I must say to my people who stand on the warm threshold which leads into the palace of justice. In the process of gaining our rightful place, we must not be guilty of wrongful deeds. Let us not seek to satisfy our thirst for freedom by drinking from the cup of bitterness and hatred.

We must forever conduct our struggle on the high plane of dignity and discipline. We must not allow our creative protest to degenerate into physical violence. Again and again, we must rise to the majestic heights of meeting physical force with soul force. The marvelous new militancy which has engulfed the Negro community must not lead us to a distrust of all white people, for many of our white brothers, as evidenced by their presence here today, have come to realize that their destiny is tied up with our destiny.

And they have come to realize that their freedom is inextricably bound to our freedom. We cannot walk alone. And as we walk, we must make the pledge that we shall always march ahead. We cannot turn back.

There are those who are asking the devotees of civil rights, when will you be satisfied? We can never be satisfied as long as the Negro is the victim of the unspeakable horrors of police brutality. We can never be satisfied as long as our bodies, heavy with the fatigue of travel, cannot gain lodging in the motels of the highways and the hotels of the cities.

We cannot be satisfied as long as the Negro’s basic mobility is from a smaller ghetto to a larger one. We can never be satisfied as long as our children are stripped of their selfhood and robbed of their dignity by signs stating: for whites only.

We cannot be satisfied as long as a Negro in Mississippi cannot vote and a Negro in New York believes he has nothing for which to vote.

No, no, we are not satisfied, and we will not be satisfied until justice rolls down like waters, and righteousness like a mighty stream.

I am not unmindful that some of you have come here out of great trials and tribulations. Some of you have come fresh from narrow jail cells. Some of you have come from areas where your quest for freedom left you battered by the storms of persecution and staggered by the winds of police brutality. You have been the veterans of creative suffering. Continue to work with the faith that unearned suffering is redemptive. Go back to Mississippi, go back to Alabama, go back to South Carolina, go back to Georgia, go back to Louisiana, go back to the slums and ghettos of our Northern cities, knowing that somehow this situation can and will be changed.

Let us not wallow in the valley of despair, I say to you today, my friends.

So even though we face the difficulties of today and tomorrow, I still have a dream. It is a dream deeply rooted in the American dream. I have a dream that one day this nation will rise up and live out the true meaning of its creed: We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal.

I have a dream that one day on the red hills of Georgia, the sons of former slaves and the sons of former slave owners will be able to sit down together at the table of brotherhood.

I have a dream that one day even the state of Mississippi, a state sweltering with the heat of injustice, sweltering with the heat of oppression will be transformed into an oasis of freedom and justice.

I have a dream that my four little children will one day live in a nation where they will not be judged by the color of their skin but by the content of their character. I have a dream today.

I have a dream that one day down in Alabama with its vicious racists, with its governor having his lips dripping with the words of interposition and nullification, one day right down in Alabama little Black boys and Black girls will be able to join hands with little white boys and white girls as sisters and brothers. I have a dream today.

I have a dream that one day every valley shall be exalted, every hill and mountain shall be made low, the rough places will be made plain, and the crooked places will be made straight, and the glory of the Lord shall be revealed, and all flesh shall see it together.

This is our hope. This is the faith that I go back to the South with. With this faith, we will be able to hew out of the mountain of despair a stone of hope. With this faith we will be able to transform the jangling discords of our nation into a beautiful symphony of brotherhood. With this faith we will be able to work together, to pray together, to struggle together, to go to jail together, to stand up for freedom together, knowing that we will be free one day.

This will be the day when all of God’s children will be able to sing with new meaning: My country, ’tis of thee, sweet land of liberty, of thee I sing. Land where my fathers died, land of the pilgrims’ pride, from every mountainside, let freedom ring.

And if America is to be a great nation, this must become true. And so let freedom ring from the prodigious hilltops of New Hampshire. Let freedom ring from the mighty mountains of New York. Let freedom ring from the heightening Alleghenies of Pennsylvania. Let freedom ring from the snowcapped Rockies of Colorado. Let freedom ring from the curvaceous slopes of California. But not only that, let freedom ring from Stone Mountain of Georgia. Let freedom ring from Lookout Mountain of Tennessee. Let freedom ring from every hill and molehill of Mississippi. From every mountainside, let freedom ring.

And when this happens, and when we allow freedom ring, when we let it ring from every village and every hamlet, from every state and every city, we will be able to speed up that day when all of God’s children, Black men and white men, Jews and Gentiles, Protestants and Catholics, will be able to join hands and sing in the words of the old Negro spiritual: Free at last. Free at last. Thank God almighty, we are free at last.

Source: https://www.npr.org/2010/01/18/122701268/i-have-a-dream-speech-in-its-entirety

Image
Ben Shahn, Martin Luther King, 1966, wood engraving by Stefan Martin, after a drawing by Ben Shahn, Smithsonian American Art Museum

Tôi Có Một Ước Mơ
Martin Luther King, Jr.
Bản dịch của Học Viện Công Dân

Tôi rất sung sướng có mặt cùng anh em hôm nay trong một ngày lịch sử, một ngày đánh dấu cuộc biểu tình đòi tự do vĩ đại nhất trong lịch sử của đất nước chúng ta.

Một trăm năm trước đây,[1] một vĩ nhân Hoa kỳ, mà chúng ta đang đứng dưới bóng biểu tượng của người, đã ký Bản Tuyên Cáo Giải phóng Nô lệ. Bản tuyên cáo vĩ đại này đã trở thành ngọn hải đăng hy vọng cho hàng triệu người nô lệ Da đen, những người đã bị héo khô mòn mỏi dưới ngọn lửa của bất công. Bản tuyên cáo đến như ánh bình minh rạng rỡ chấm dứt cho họ đêm đen của tù ngục.

Nhưng một trăm năm sau, người Da đen vẫn chưa được tự do. Một trăm năm sau, người Da đen vẫn còn đang bị những cái cùm của sự phân chủng và xiềng xích của sự kỳ thị làm cho tàn tật. Một trăm năm sau, người Da đen vẫn còn đang phải sống trên một hòn đảo nghèo đói cô đơn giữa một đại dương bát ngát của vật chất phồn vinh. Một trăm năm sau người Da đen vẫn còn phải chờ đợi mỏi mòn trong những góc khuất của xã hội Mỹ và thấy đang bị lưu đầy ngay trên chính quê hương mình. Và như vậy, chúng ta đã đến đây hôm nay để phô bày tình trạng đáng xấu hổ này trước công luận.

Có thể nói ngày hôm nay chúng ta đến thủ đô là để lãnh một tấm chi phiếu, để đòi nợ. Khi những kiến trúc sư của nền cộng hòa của chúng ta viết những dòng chữ uy nghi trong bản Hiến pháp và Tuyên ngôn Độc lập, họ đã ký một giấy nợ với tất cả những con dân của nước Mỹ. Giấy nợ này hứa hẹn rằng tất cả mọi người dân Mỹ, đúng vậy, tất cả, da đen cũng như da trắng, sẽ được bảo đảm những quyền “bất khả xâm phạm;” đó là “Quyền Sống, Quyền Hưởng Tự Do, và Quyền Mưu cầu Hạnh phúc.” Thế nhưng, ngày nay, nước Mỹ đã bội ước trên món nợ này, ít ra là đối với những công dân gốc da màu. Thay vì tôn trọng bổn phận thiêng liêng này, nước Mỹ đã ký cho những người da đen một tấm chi phiếu vô giá trị, một tấm chi phiếu bị hoàn trả vì “không đủ tiền bảo chứng.”

Nhưng chúng ta không tin rằng ngân hàng của công lý đã bị khánh tận. Chúng ta không tin rằng cái kho cơ hội vĩ đại của đất nước này lại không có đủ tiền bảo chứng. Và vì thế, chúng ta đã đến đây để lãnh tấm chi phiếu này; tấm chi phiếu đem lại, theo đòi hỏi của chúng ta, sự giàu có của tự do và an ninh của công lý.

Chúng ta cũng đến nơi thiêng liêng này để nhắc cho nước Mỹ biết về tình trạng khẩn cấp như lửa cháy của Lúc Này. Lúc Này không phải là lúc để tham dự vào sự xa xỉ của những phiên họp nhằm “giảm nhiệt” hay uống những viên thuốc an thần của chính sách tiệm tiến. Bây giờ là lúc để biến thành hiện thực những hứa hẹn của dân chủ. Bây giờ là lúc phải vượt khỏi bóng tối và khổ đau của thung lũng phân chủng để vươn tới con đường trải đầy ánh sáng của công bằng chủng tộc. Bây giờ là lúc phải nâng đất nước chúng ta lên khỏi vũng lầy của sự bất công chủng tộc và đặt lên trên nền đá tảng của tình huynh đệ. Bây giờ là lúc biến công lý trở thành hiện thực cho mọi con dân của Thượng Đế.

Nếu không quan tâm tới tính chất khẩn cấp của thời điểm này, đất nước của chúng ta sẽ phạm một lỗi lầm chí tử. Mùa hè oi ả của sự bất mãn chính đáng của người Da Đen sẽ không tự trôi qua cho đến khi mùa thu đầy sinh lực của tự do và bình đẳng đến. Năm 1963 không phải là cứu cánh, mà chỉ là điểm khởi đầu. Và những kẻ nào hy vọng rằng người Da Đen sẽ hài lòng sau khi để cho họ “xả hơi bất mãn” thì họ sẽ phải đối diện với một sự thật phũ phàng, nếu đất nước này vẫn tiếp tục hành xử như cũ. Sẽ không có sự yên tĩnh và thanh bình trên nước Mỹ cho tới khi người Da Đen có được quyền công dân chính đáng của mình. Cơn lốc của cách mạng sẽ tiếp tục lay tận gốc đất nước của chúng ta cho đến khi ánh sáng xán lạn của công lý hiện ra.

Nhưng có điều tôi cũng muốn trình bày với anh em của tôi, những người đang đứng trước ngưỡng cửa ấm áp dẫn vào cung điện của thần công lý: Trong tiến trình đòi hỏi chỗ đứng đúng đắn của mình, chúng ta không thể để bị buộc tội vì những hành vi sai trái. Hãy đừng dùng chén của thù hận và cay đắng để thỏa mãn cơn khát của mình. Chúng ta phải mãi mãi tiến hành cuộc đấu tranh của mình ở trên tầng cao của nhân phẩm và kỷ luật. Chúng ta không được phép để cho những sự phản đối đầy sáng tạo của ta thoái hóa thành sự bạo động bằng vũ lực. Ta phải luôn luôn nhớ là phải vượt lên đến trình độ vương giả là sử dụng sức mạnh của tinh thần để đối phó với bạo lực của thể chất.

Phe chủ chiến vừa mới nổi lên đây đã bao trùm cả cộng đồng người Da Đen, nhưng ta đừng để chủ trương bạo lực này khiến ta mất niềm tin vào tất cả những người da trắng, vì rất nhiều những người anh em da trắng của chúng ta, mà sự hiện diện của họ với chúng ta ngày hôm nay đã chứng minh là họ nhận thức được định mệnh của họ và của chúng ta dính liền với nhau. Và họ đã tới để xác nhận một sự thực là sự tự do của họ và tự do của chúng ta là một mối dây không thể gỡ riêng ra được.

Chúng ta không thể bước đi đơn độc.

Khi bước đi, ta phải tự hứa rằng sẽ luôn luôn bước về phía trước.

Chúng ta không thể quay đầu trở lại.

Nhiều người đã hỏi những người đấu tranh cho dân quyền câu này: “Chừng nào mấy người mới thỏa mãn hả?” Chúng tôi sẽ không bao giờ thỏa mãn khi nào người Da Đen còn là nạn nhân của những sự bạo hành khủng khiếp không thể tưởng tượng được của cảnh sát. Chúng tôi sẽ không bao giờ thỏa mãn khi nào mà thể xác của chúng tôi, bị mỏi mệt vì đi đường xa, mà không thể vào nghỉ tại quán trọ trên đường đi hay tại khách sạn trong thành phố. Chúng tôi sẽ không bao giờ thỏa mãn khi sự di chuyển cơ bản của người Da Đen là từ một khu ổ chuột nhỏ sang một khu ổ chuột lớn hơn. Chúng tôi sẽ không bao giờ thỏa mãn khi con em của chúng tôi bị tước đoạt ý thức về cái-tôi của chúng và bị cướp đi nhân phẩm bởi những tấm bảng đề: “Chỉ dành cho người Da Trắng.” Chúng tôi sẽ không bao giờ thỏa mãn khi nào còn người Da Đen ở Mississippi không được đi bầu, và còn người Da Đen ở New York nghĩ là y chẳng có gì để mà lựa chọn cả. Không. Không. Chúng tôi không thỏa mãn, và sẽ không thỏa mãn cho đến khi “sự chánh trực chảy xuống như nước, và công bình như sông lớn cuồn cuộn.”[2]

Tôi biết có những anh em đến đây sau bao nhiêu thử thách và hoạn nạn. Một số vừa mới ra khỏi những phòng giam chật hẹp. Và một số đến từ những vùng mà sự tìm kiếm tự do đã khiến cho thân thể anh em bị bầm dập bởi những cơn bão của bách hại và lao đao vì những cơn gió của cảnh sát tàn bạo. Các anh em đã là cựu chiến binh của những khổ đau đầy sáng tạo. Hãy tiếp tục công cuộc đấu tranh với đức tin là những sự đau khổ dưng không xảy đến cho mình, những đau khổ đó chính là ơn cứu chuộc. Hãy về lại Mississippi, về lại Alabama, về lại South Carolina, về lại Georgia, về lại Louisiana, về lại những khu ổ chuột và khu biệt cư của người Da Đen tại những thành phố miền bắc, và hãy tin rằng bằng cách này hay bằng cách khác, chúng ta có khả năng để thay đổi và tình trạng này sẽ được thay đổi.

Tôi xin nói với anh em ngày hôm nay, đừng tự đắm mình trong thung lũng của tuyệt vọng.
Và ngay cả khi chúng ta đang đối diện với những khó khăn ngày hôm nay và của ngày mai, tôi vẫn có một ước mơ. Một ước mơ bắt nguồn sâu xa từ trong ước mơ của nước Mỹ.

Tôi có một ước mơ là sẽ có một ngày đất nước này sẽ trỗi dậy và sống đúng với ý nghĩa của tín điều đã được tuyên xưng: “Chúng tôi công nhận những điều này là chân lý hiển nhiên, đó là mọi người sinh ra đều bình đẳng.”

Tôi có một ước mơ là sẽ có một ngày trên những ngọn đồi đất đỏ của Georgia, con cái của những người cựu nô lệ và của cựu chủ nhân sẽ có thể ngồi xuống với nhau bên chiếc bàn của tình huynh đệ.

Tôi có một ước mơ là sẽ có một ngày, ngay cả tiểu bang Mississippi, một tiểu bang mà sự bất công đang bốc hơi nồng nực, đang ngột ngạt dưới cái nóng của đàn áp, sẽ được hóa thân thành một ốc đảo của tự do và công lý.

Tôi có một ước mơ là sẽ có một ngày bốn đứa con nhỏ của tôi được sống trong một quốc gia mà chúng không bị đánh giá bởi màu da bên ngoài mà bằng tư cách ở bên trong.

Tôi có một ước mơ ngày hôm nay!

Tôi có một ước mơ là sẽ có một ngày tại Alabama—với những kẻ kỳ thị chủng tộc ác ôn, với viên thống đốc mà miệng lưỡi còn dính những chữ “trung gian” và “vô hiệu hóa”—một ngày mà trẻ con da đen và da trắng có thể nắm tay nhau thân ái trong tình huynh đệ.

Tôi có một ước mơ ngày hôm nay!

Tôi có một ước mơ là sẽ có ngày mọi thung lũng được nâng cao và mọi núi đồi sẽ bị hạ thấp, những chốn gồ ghề sẽ được lấp bằng và mọi nẻo cong sẽ được uốn thẳng; “và sự vinh quang của Thượng Đế sẽ được hiển lộ cho tất cả nhân loại.”[3]

Đó là hy vọng của chúng ta và đó là đức tin tôi sẽ mang theo khi về lại miền Nam.

Với đức tin này, chúng ta sẽ có thể đẽo ra từ ngọn núi tuyệt vọng một viên đá của hy vọng. Với đức tin này, chúng ta sẽ có thể biến cải những tiếng nói bất hòa và chát chúa thành một bản hợp xướng của tình Huynh đệ. Với đức tin này, chúng ta có thể cùng nhau làm việc, cùng nhau cầu nguyện, cùng nhau tranh đấu, cùng nhau chịu tù đày, cùng nhau chiến đấu cho tự do, và biết rằng, sẽ có một ngày, chúng ta được tự do.

Và ngày ấy sẽ đến—đó sẽ là ngày mà tất cả những người con của Thượng Đế sẽ có thể cất cao lời hát với ý nghĩa mới:

Tôi hát ngợi ca quê hương này của tôi và của anh, đất ngọt của tự do.
Vùng đất tổ tiên đã hy sinh, và đất của người Hành hương quang vinh,
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên  từ khắp núi đồi quê hương.

Và nếu Hoa Kỳ muốn trở thành một quốc gia vĩ đại, thì điều này phải thành sự thực.

Và hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ những ngọn đồi kỳ vĩ của New Hampshire.
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ những rặng núi đồ sộ của New York.
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ rặng Allegheny của Pennsylvania.
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ đỉnh cao tuyết phủ của dãy Trường Sơn Colorado.
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ những sườn đồi óng ả của xứ California.

Nhưng không phải chỉ có thế:

Hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ ngọn Thạch Sơn của Georgia.
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ ngọn Vọng Sơn của Tennessee.
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ mọi ngọn đồi và đụn cát xứ Mississippi.
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ khắp núi đồi quê hương.

Và khi tiếng chuông tự do vang lên, khi chúng ta để cho tiếng chuông tự do vang lên từ mọi làng thôn, từ mọi tiểu bang và phố thị, ta sẽ có thể tiến đến cái ngày ấy mau hơn, cái ngày mà mọi con dân của Thượng Đế, da trắng và da đen, người Do Thái và dân Ngoại giáo, tín đồ Tin Lành và Công giáo, sẽ cùng nắm tay nhau và hát lên những câu hát của bản thánh ca cổ của người Da Đen:

Cuối cùng đã có tự do! Cuối cùng đã có tự do!
Tạ ơn Chúa Toàn năng, cuối cùng chúng ta đã có tự do![4]

© Học Viện Công Dân 2012
Nguồn:
http://www.americanrhetoric.com/speeches/mlkihaveadream.htm

[1] Đây là lối chơi chữ “Five score years ago,” mà King bắt chước tổng thống Lincolntrong diễn văn Gettysburg: “Four score and seven years ago.” Một score là 20 đơn vị, không có đơn vị tương đương bên Việt ngữ, nên phải dịch thẳng là “một trăm năm trước đây” và không giữ được văn phong của King (ghi chú của người dịch).
[2] Kinh thánh Cựu Ước: sách Amos, đoạn 5, câu 24.
[3] Ê-Sai, đoạn 40, câu 5.
[4] Free At Last (Cuối cùng ta đã có tự do) là một bản thánh ca cổ của người Da Đen được John Wesley Work đệ II sưu tập trong
tuyển tập dân ca Da Đen.

Nguồn: https://icevn.org/vi/blog/toi-co-mot-uoc-mo/

Image

Image

Aiseki Kai Annual Exhibition at Huntington Library, December 26 – 30, 2025

Aiseki Kai Annual Exhibition at Huntington Library, December 26 – 30, 2025
Lisa and Phat Vo

1.

Image
Cold Plum Blossoms

Cold Plum Blossoms
Hàn Mai
WxHxD 5.5x9x5 in
A River in the USA

2.

Image
Cold Moon

Cold Moon
Hàn Nguyệt
WxHxD 5.5×3.25×3.25 in
Merced River

3.

Image
Distant Mountain

Distant Mountain
Viễn Sơn Thạch (Núi Xa)
WxHxD 13.5x5x6.5
Eel River

4.

Image
Meditation

Meditation
Trầm Tư/Thiền Định
WxHxD 6x9x5 in
Kern River

5.

Image
Island

Island
Hải Đảo
WxHxD 12×5.25×5 in
Kern River

To Cut or Not To Cut

Image
Still Life with ‘Stroking Ox’, Woodblock by Keisai Eisen (Japan, 1790-1848), LACMA


To Cut or Not To Cut

Phat Vo

I could think of many reasons not to cut stone, that is, for the art of suiseki. Imagine a modern Mi Fu* bowing to a rock and exclaiming, “Oh my dear bro! I love you so much! But I love most the part from your left hip straight to your right shoulder! So I am going to bring you home and cut you up as such! Love you! Love you! Love you!“

Oh brother!

That’s no way to treat a brother!

Kidding aside, the main reason people cut stone is to produce a more realistic distant mountain. This act reduces the value of the stone by at least 30%, depending on who you ask (my wife would say 100%.) The Japanese suiseki people cut and sandblast the bottoms to hide the embarrassment. Westerners laugh at this practice and leave the cut bottoms flat to show boldness. My take on this is: who says art must imitate life? A distant mountain stone doesn’t have to be perfectly resembling a real distant mountain but shows a suggestion of a perfect distant mountain.

Image
Nina Ragle’s Eel River mountain stone

We’ve been collecting stones for over 10 years, and have found a few first rate American suiseki, but a nice mountain stone, seemingly the easiest to find, is still elusive. We are not in hurry to cut stones for a nice mountain stone though. There are masterpieces of uncut mountain stones in the collections of our suiseki friends to give us motivation. (Nina Ragle found one on the Eel River and Janet Roth also found another on the Eel River**). To enjoy these beautiful suiseki at their homes is like seeing paintings of masters like Rembrandt or El Greco at museums.

Image
Janet Roth’s Black Butte Lake mountain stone

Another defense of cutting is that the Japanese who started the suiseki cult also cut stones. That is no defense, because it doesn’t say if the practice is a good one, and bad practice is bad no matter who does it.

My first real reason for not cutting stone is logistics. I don’t have the machine to cut stones, and our homeowners association would harass us endlessly for running such a machine in our neighborhood. My second and most important one is that my wife says no to cutting. Her reason is: it’s bad enough to take a stone away from his brothers in the wilderness; it’s inhumane to cut it; and when cutting a stone you kill its soul. Her insistence on not cutting stones is well known among our suiseki friends. Whenever suiseki friends show cut stones, they would comment something like “oh but it’s cut, Lisa won’t like it.”

And of course, because I want to continue with the suiseki practice, I obey her unconditionally.

Source: Aisekikai Newsletter, November 2025

Note:
* Mi Fu, Mi Fei (米芾 – Chinese, 1051–1107): Song Dynasty painter, poet, calligrapher, famous for his fondness for unusual rocks, once bowing and calling a rock his older brother

** This writer misremembered. Janet Roth’s stone was found in Black Butte Lake.

Still Life with ‘Stroking Ox’, Woodblock by Keisai Eisen (Japan, 1790-1848), LACMA

Cắt hay không cắt
Võ Tấn Phát

Tôi có thể nêu ra nhiều lý do để đừng cắt đá cho nghệ thuật thủy thạch. Hãy tưởng tượng một Mễ Phế* thời nay quỳ bái một hòn đá và rằng: “Ôi huynh ôi! Đệ thật là yêu quý huynh quá chừng! Nhưng quý nhất là khúc từ hông trái lên thẳng tới vai phải của huynh! Vậy đệ xin thỉnh huynh về và cắt phăng một nhát như vậy! Thật là thích huynh quá đi! Thích quá đi!”

Huynh với chả đệ!

Đó đâu phải là cách hành xử với người anh em!

Dẹp chuyện cười cợt sang một bên, thì nguyên nhân chính để cắt đá là nhằm tạo ra một hòn đá hình núi xa giống thật hơn. Nhưng làm như vậy sẽ giảm giá trị hòn đá mất ít nhất 30%, tùy theo ý mỗi người (vợ tôi thì bảo 100%). Những tín đồ thủy thạch Nhật Bản phun cát mài chỗ đế bị cắt để che giấu điều xấu hổ này. Người Phương Tây thì để yên đế phẳng để tỏ sự táo bạo. Quan điểm của tôi là: ai bảo nghệ thuật phải rập khuôn cuộc sống? Một hòn đá hình núi xa không nhất thiết phải giống hệt một hòn núi xa hoàn hảo, mà gợi ra hình ảnh một hòn núi xa hoàn hảo.

Chúng tôi đã sưu tầm đá hơn 10 năm nay và đã tìm thấy một vài viên thủy thạch Mỹ hảo hạng, nhưng một viên đá núi đẹp, dường như dễ tìm nhất, dường như vẫn lẩn trốn chúng tôi. Tuy nhiên, chúng tôi không vội cắt đá để có được một viên đá đẹp hình núi. Có những kiệt tác đá hình núi không cắt trong bộ sưu tập của bạn bè trong giới thủy thạch để tiếp thêm động lực cho chúng tôi. Nina Ragle đã tìm thấy một viên trên sông Eel và Janet Roth cũng tìm thấy một viên khác trên hồ Black Butte. Thưởng thức những viên thủy thạch tuyệt đẹp này tại nhà của họ cũng giống như xem tranh của các bậc thầy như Rembrandt hay El Greco tại các bảo tàng.

Một bào chữa khác cho việc cắt đá là người Nhật, những người khởi xướng môn thủ thạch, cũng cắt đá. Đó không phải là bào chữa chính đáng, bởi vì nó không nói lên liệu việc cắt đá có tốt hay không, và nếu cắt đá là xấu, thì bất kể ai thực hiện cũng đều xấu.

Lý do thực sự đầu tiên khiến tôi không cắt đá là vì phiền não. Tôi không có máy cắt đá, và hiệp hội quản lý khu phố sẽ không ngừng gây khó dễ vì tiếng ồn của máy cắt đá. Lý do thứ hai và quan trọng nhất là vợ không cho phép cắt đá. Lý do của nàng là: tách khỏi những anh em đá ngoài hoang dã đã đủ tệ rồi; cắt đá là vô nhân đạo; và khi cắt đá, bạn giết chết hồn vía hòn đá. Việc nàng nhất quyết không cắt đá là điều mà bạn bè sưu tầm thủy thạch của chúng tôi đều biết rõ. Mỗi khi bạn bè thủy thạch trưng bày những viên đá đã cắt, họ sẽ bình luận đại loại như “Ồ nhưng đá cắt, Trang không thích đâu.”

Và dĩ nhiên vì tôi còn đam mê thủy thạch, lệnh của nàng tôi vô điều kiện tuân theo.


Chú thích:
* Mễ Phí/Mễ Phất (米芾 – Trung Quốc, 1051–1107): tự là Nguyên Chương, họa sĩ, thi sĩ, nhà thư pháp thời Tống, nổi tiếng vì mê đá, từng bái lạy và gọi đá là anh (bái thạch vi huynh)