AMX-30
| AMX-30 | |
|---|---|
Một chiếc xe tăng AMX-30B của Pháp được trưng bày tại U.S. Army Armor & Cavalry Collection | |
| Loại | Xe tăng chiến đấu chủ lực |
| Nơi chế tạo | Pháp |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | từ 1966 |
| Sử dụng bởi | Xem Operators |
| Trận | Chiến tranh Iran – Iraq Chiến tranh Vùng Vịnh Xung đột biên giới Ả Rập Xê Út – Yemen (2015 – nay) |
| Lược sử chế tạo | |
| Năm thiết kế | 1959 |
| Nhà sản xuất | AMX (sau là GIAT) |
| Giai đoạn sản xuất | 1966-1994 |
| Số lượng chế tạo | 3.571 chiếc |
| Thông số | |
| Khối lượng | 36 tấn (40 tấn Mỹ; 35 tấn Anh) |
| Chiều dài | 9,48 m (31 ft 1 in) (pháo về phía trước) |
| Chiều rộng | 3,1 m (10 ft 2 in) |
| Chiều cao | 2,28 m (7 ft 6 in) |
| Kíp chiến đấu | 4 (trưởng xe, pháo thủ, nạp đạn, lái xe) |
| Phương tiện bọc thép | tối đa 80 mm (3,1 in)[1] |
Vũ khí chính | Pháo 105 mm Modèle F1 |
Vũ khí phụ | 1 pháo modèle F2 20 mm 1× súng máy NF1 7,62 mm |
| Động cơ | Hispano-Suiza HS-110 đa nhiên liệu 680 hp (510 kW)-720 hp (540 kW) |
| Công suất/trọng lượng | 18,9 hp/tấn |
| Hệ truyền động | Hộp số sàn trên xe tăng AMX30B Hộp số bán tự động SESM ENC200 trên phiên bản AMX-30B2 |
| Hệ thống treo | Treo thanh xoắn giảm xóc |
| Tầm hoạt động | 600 km (370 mi) |
| Tốc độ | 65 km/h (40 mph) |
AMX-30 là một loại xe tăng chiến đấu chủ lực của Pháp, AMX là viết tắt của nhà thiết kế Ateliers de construction d'Issy-les-Moulineaux (sau này là GIAT) và được bàn giao lần đầu cho Lục quân Pháp vào tháng 8 năm 1966. Năm chiếc đầu tiên được biên chế cho Trung đoàn Xe tăng Chiến đấu số 501 (501st Régiment de Chars de Combat) trong đợt bàn giao đầu tiên này. Phiên bản chính thức đưa vào sản xuất AMX-30B có khối lượng 36 tấn và đánh đổi khả năng bảo vệ để có tính cơ động cao hơn. Người Pháp cho rằng việc bọc đủ giáp để chống lại các vũ khí chống tăng hiện đại sẽ làm giảm đáng kể khả năng cơ động của xe tăng. Thay vào đó, khả năng sống sót của xe được bảo đảm bằng tốc độ và kích thước nhỏ gọn của xe, với chiều cao chỉ 2,28 m. Xe được trang bị pháo 105 mm, sử dụng loại đạn chống tăng nổ lõm (HEAT) tiên tiến thời bấy giờ mang tên Obus G. Đạn Obus G có lớp vỏ ngoài được tách khỏi khối thuốc nổ chính bằng các ổ bi, cho phép đầu đạn được ổn định bằng chuyển động quay do nòng pháo tạo ra mà không làm khối thuốc nổ bên trong quay theo, tránh làm suy giảm khả năng hình thành luồng xuyên của đầu đạn lõm. Khả năng cơ động được bảo đảm nhờ động cơ diesel HS-110 công suất 720 mã lực (540 kW), mặc dù hệ thống truyền động hay bị trục trặc đã ảnh hưởng xấu đến tính năng vận hành của xe.
Năm 1979, do các vấn đề liên quan đến hệ thống truyền động, Lục quân Pháp bắt đầu nâng cấp đội xe tăng của mình lên chuẩn AMX-30B2, bao gồm hộp số mới, động cơ cải tiến và việc đưa vào trang bị đạn xuyên động năng ổn định bằng cánh đuôi (Kinetic energy penetrator) OFL 105 F1. AMX-30 là nền tảng cho nhiều xe thiết giáp khác nhau, gồm xe cứu kéo bọc thép AMX-30D, hệ thống pháo phòng không tự hành AMX-30R, xe bắc cầu, xe mang bệ phóng tên lửa hạt nhân chiến thuật Pluton và xe tên lửa phòng không.
AMX-30 được phát triển sau hai mẫu xe tăng hạng trung của Pháp trong thời kỳ hậu Chiến tranh thế giới thứ hai. Mẫu đầu tiên là ARL 44, được chế tạo như một giải pháp tạm thời. Mẫu thay thế của nó là AMX 50, nhưng chương trình này bị hủy bỏ vào giữa những năm 1950 để chuyển sang tiếp nhận xe tăng M47 Patton. Năm 1956, Chính phủ Pháp tham gia chương trình hợp tác phát triển với Tây Đức và Ý nhằm thiết kế một mẫu xe tăng tiêu chuẩn chung. Mặc dù ba quốc gia đã thống nhất một số đặc tính cơ bản cho mẫu xe mới và cả Pháp lẫn Tây Đức đều phát triển các nguyên mẫu riêng với mục tiêu thử nghiệm rồi kết hợp những ưu điểm của cả hai, chương trình cuối cùng thất bại khi Tây Đức quyết định không sử dụng khẩu pháo tăng 105 mm mới do Pháp phát triển, còn Pháp tuyên bố sẽ hoãn sản xuất đến năm 1965. Kết quả là cả hai nước đều quyết định phát triển xe tăng dựa trên nguyên mẫu của riêng mình. Mẫu xe tăng của Đức trở thành Leopard 1, còn nguyên mẫu của Pháp trở thành AMX-30.
Ngay từ năm 1969, Hy Lạp bắt đầu đặt mua AMX-30 cùng các biến thể của nó, sau đó là Tây Ban Nha (phiên bản AMX-30E). AMX-30 sau đó đã được xuất khẩu sang Ả Rập Xê Út, Venezuela, Qatar, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Síp và Chile. Đến khi kết thúc dây chuyền sản xuất, tổng cộng 3.571 chiếc AMX-30 và các biến thể đã được chế tạo. Tây Ban Nha và Venezuela sau đó đều tiến hành các chương trình nâng cấp quy mô lớn nhằm kéo dài tuổi thọ và đưa các xe tăng này lên tiêu chuẩn hiện đại hơn. Trong Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, AMX-30 được cả quân đội Pháp và Qatar triển khai; các xe tăng AMX-30 của Qatar đã trực tiếp tham chiến chống quân đội Iraq trong Trận Khafji. Đến cuối thế kỷ XX, Pháp và phần lớn các quốc gia sử dụng khác đã thay thế AMX-30 bằng các phương tiện hiện đại hơn; trong biên chế quân đội Pháp, AMX-30 được thay thế bằng Leclerc. Tính đến năm 2024, mẫu xe tăng này vẫn còn phục vụ trong quân đội của một số quốc gia.
Bối cảnh
[sửa | sửa mã nguồn]Mặc dù việc Pháp bị Đức chiếm đóng trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã tạm thời làm gián đoạn quá trình phát triển các phương tiện chiến đấu bọc thép của nước này, các hoạt động nghiên cứu bí mật đã giúp Pháp nhanh chóng khôi phục năng lực sau khi được giải phóng vào giữa năm 1944.[2] Trong thời kỳ chiếm đóng, các kỹ sư Pháp vẫn âm thầm tiến hành một chương trình phát triển xe tăng. Năm 1944, chương trình này được xưởng quân khí Atelier de Construction de Rueil (ARL) tiếp quản, dẫn đến việc thiết kế và chế tạo xe tăng ARL 44, bắt đầu sản xuất từ năm 1946.[3] Xe được trang bị động cơ Maybach HL-230 công suất 575 mã lực (429 kW) và pháo tăng 90 mm.[4] Mặc dù chiếc xe tăng nặng 48 tấn này có hỏa lực và công suất động cơ tương đương các xe tăng cùng thời, nó vẫn tồn tại nhiều nhược điểm rõ rệt, đặc biệt là thiết kế xích đã lỗi thời.[2] Ban đầu dự kiến chế tạo 600 chiếc, nhưng đến năm 1950 chỉ có 60 chiếc được hoàn thành. Cùng năm đó, chúng được biên chế cho Trung đoàn Xe tăng số 503 của Lục quân Pháp.[5] Ngay từ khi ra đời, ARL 44 chỉ được xem là giải pháp tạm thời cho lực lượng thiết giáp Pháp, vì vậy việc phát triển một mẫu xe tăng mới đã được khởi động từ tháng 3 năm 1945.[2]

Việc phát triển mẫu xe tăng mới, có biệt danh char de 50 tonnes ("xe tăng 50 tấn"), được giao cho năm nhà chế tạo gồm Atelier de Construction d'Issy-les-Moulineaux (AMX), Forges et Chantiers de la Méditerranée (FCM), Renault và Société d'Outillage Mécanique et d'Usinage d'Artillerie (SOMUA).[5] Đồng thời, Société Lorraine de Dietrich (SLD-Lorraine) được giao thiết kế một mẫu xe tăng hạng trung nhẹ hơn, tạo ra nguyên mẫu char 40 tonnes.[6] Các phương tiện mới được phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu hậu chiến về một loại xe tăng chiến đấu thống nhất.[2] Tùy từng nguyên mẫu, thân xe và hệ thống treo hoặc mang nhiều nét tương đồng với xe tăng Panther của Đức, vốn được Lục quân Pháp sử dụng ngay sau chiến tranh (AMX),[7] hoặc bố trí giáp, kíp lái và hệ thống truyền động theo kiểu Tiger II (SOMUA). Những yêu cầu kỹ thuật của Chính phủ Pháp chịu ảnh hưởng mạnh từ cả Panther và Tiger I; cụ thể, Lục quân Pháp mong muốn một mẫu xe tăng có khả năng bảo vệ tương đương Panther nhưng hỏa lực ngang Tiger I.[8] Mặc dù vay mượn nhiều yếu tố từ xe tăng Đức, như động cơ Maybach HL295 công suất 1.000 mã lực (750 kW) phát triển từ mẫu HL234, cùng hệ thống bánh chịu tải sử dụng thanh xoắn, char 50 tonnes vẫn sở hữu nhiều đặc điểm độc đáo.[9] Nổi bật nhất là tháp pháo dao động (oscillating turret), lần đầu tiên được áp dụng trên xe tăng. Tháp pháo này gồm hai phần: phần dưới gắn với vòng tháp pháo, còn phần trên mang pháo chính và dao động quanh các chốt trunnion. Cách bố trí này giúp đơn giản hóa cơ cấu nâng hạ pháo, hệ thống điều khiển hỏa lực và việc lắp đặt hệ thống nạp đạn tự động.[10] Trong số các nhà thầu, Renault rút khỏi chương trình, còn đầu năm 1946 Chính phủ Pháp lựa chọn thiết kế AMX và SOMUA tiếp tục được phát triển.[5] Các nguyên mẫu được ký hiệu lần lượt là M4 (AMX) và SM (SOMUA). AMX hoàn thành nguyên mẫu vào năm 1949, trong khi SOMUA phải đến năm 1956 mới hoàn thiện do chậm trễ trong việc bàn giao động cơ.[11] Nguyên mẫu đầu tiên của AMX được trang bị pháo 90 mm, còn nguyên mẫu thứ hai lắp pháo 100 mm vào tháng 7 năm 1950.[10] Mặc dù AMX 50 từng được dự định trở thành xe tăng hạng trung tiêu chuẩn của Liên minh Tây Âu,[8] các khó khăn tài chính cùng với việc Hoa Kỳ viện trợ cho Pháp 856 xe tăng M47 Patton[12] đã khiến chương trình ban đầu bị hủy bỏ.[10][13] Năm 1951, chương trình được chuyển hướng sang phát triển xe tăng hạng nặng với pháo 120 mm lớn hơn. Tuy đã chế tạo ba nguyên mẫu, dự án cũng bị hủy bỏ vào năm 1956, chủ yếu do không thể phát triển được động cơ đủ mạnh.[8]

Sau khi chương trình AMX 50 trang bị pháo 100 mm bị chấm dứt vào năm 1951, Pháp tạm thời từ bỏ ý định chế tạo xe tăng hạng trung.[14] Khi đó, người ta kỳ vọng Tây Đức sẽ sớm được phép tái vũ trang và có xu hướng xây dựng lực lượng thiết giáp dựa trên số lượng lớn xe tăng hạng nhẹ giá rẻ nhưng được trang bị hỏa lực mạnh, lấy số lượng để bù đắp sự thua kém về chất lượng so với các xe tăng hạng trung hiện đại.[14] Triển vọng hàng nghìn xe tăng như vậy được biên chế cho Tây Đức đã khiến Pháp áp dụng ý tưởng tương tự và dự định thành lập các sư đoàn thiết giáp hạng nhẹ Type 67, trong đó AMX-13/105 được thiết kế chuyên biệt.[14] Một thiết kế từ một nhà thầu tư nhân nhằm đáp ứng cùng yêu cầu là Char Batignolles-Châtillon, có kích thước lớn hơn đôi chút. Nguyên mẫu xe tăng hạng trung phát triển từ thiết kế này, hoàn thành năm 1955, chứng minh rằng có thể chế tạo một xe tăng nặng không quá 30 tấn nhưng vẫn có thể mang pháo cỡ lớn và được bảo vệ bán cầu trước tương đương lớp giáp thép dày 80 mm. Điều này đã khơi dậy trở lại sự quan tâm đối với khái niệm xe tăng hạng trung.[14]
Năm 1956, nhóm công tác quốc phòng FINBEL (gồm Pháp, Ý, Hà Lan, Bỉ và Luxembourg), được thành lập từ năm 1953 với đại diện của các bộ tổng tham mưu,[15] đã xây dựng bộ yêu cầu kỹ thuật cho một mẫu xe tăng hạng trung mới nhằm thay thế các xe tăng Mỹ và Anh đang sử dụng. Cùng năm đó, Tây Đức gia nhập nhóm, đổi tên thành FINABEL (chữ A viết tắt của Allemagne – "Đức" trong tiếng Pháp). Ngày 27 tháng 10 năm 1956, tại Colomb-Béchar, Pháp và Tây Đức ký thỏa thuận song phương hợp tác phát triển xe tăng mới.[16] Mặc dù các nước FINABEL khác không chính thức tham gia,[16] mẫu xe được gọi là Europa-Panzer nhằm thể hiện tính chất chung của châu Âu, và các chuyên gia từ các quốc gia thành viên đều tham gia quá trình thiết kế.[17] Theo bộ yêu cầu kỹ thuật FINABEL 3A5,[18] xe tăng mới phải là một xe tăng chiến đấu có trọng lượng nhẹ và tính cơ động cao, với giới hạn khối lượng 30 tấn, chấp nhận giảm mức bảo vệ giáp.[19][20] Tại hội nghị ở Bonn ngày 12 tháng 2 năm 1957, các kỹ sư Pháp và Đức thống nhất các yêu cầu cơ bản: chiều rộng tối đa 3,15 m, chiều cao 2,15 m và sử dụng pháo tăng 105 mm do Viện nghiên cứu quân sự Pháp–Đức tại Saint Louis phát triển.[21] Xe tăng mới sẽ dùng động cơ xăng làm mát bằng không khí, hệ thống treo thanh xoắn kết hợp giảm chấn thủy lực, tỷ lệ công suất trên trọng lượng tối thiểu 30 mã lực/tấn và tầm hoạt động trên đường tối thiểu 350 km.
Tháng 5 cùng năm, Ý tham gia dự án nhưng chỉ mang tính hình thức vì sau chiến tranh nước này không còn cơ quan thiết kế xe tăng.[16] Ngày 28 tháng 11 năm 1957,[16] Bộ Quốc phòng Pháp và Tây Đức ký hợp đồng tại Paris cho phép mỗi nước tự chế tạo hai nguyên mẫu riêng.[22] Tuy nhiên, ngay năm sau, dự án gặp trở ngại lớn đầu tiên khi Charles de Gaulle lên nắm quyền và thành lập nền Đệ Ngũ Cộng hòa Pháp. Do Hiệp ước Paris tập trung vào việc phát triển vũ khí hạt nhân chung, ngày 17 tháng 6 năm 1958, de Gaulle quyết định từ chối chia sẻ năng lực hạt nhân với Tây Đức và Ý nhằm tránh làm Hoa Kỳ và Vương quốc Anh bất bình. Quyết định này khiến Tây Đức giảm đáng kể sự quan tâm đối với chương trình xe tăng chung.[16]
Các nguyên mẫu của Pháp được Atelier de Construction d'Issy-les-Moulineaux (AMX) phát triển dưới sự chỉ đạo của Tướng Joseph Molinié thuộc Direction des Études et Fabrications d'Armements (sau này là Direction Technique des Armements Terrestres)[23] và kỹ sư trưởng của Heissler của AMX.[24] Nguyên mẫu đầu tiên hoàn thành vào tháng 9 năm 1960 và bắt đầu thử nghiệm từ tháng 2 năm 1961; nguyên mẫu thứ hai, được trang bị máy đo xa cải tiến và xích mới, được thử nghiệm vào tháng 7 năm 1961. Các nguyên mẫu đầu tiên đã sử dụng tháp pháo có hình dáng rất tròn, mô phỏng xe tăng T-54 của Liên Xô, đồng thời được trang bị động cơ xăng Sofam. Từ năm 1961 đến năm 1963, thêm bảy nguyên mẫu với tháp pháo đúc có hình dáng gọn hơn được chế tạo.[16][25]
Phía Đức giao việc phát triển nguyên mẫu cho hai nhóm. Nhóm A gồm Porsche, Maschinenbau Kiel, Luther & Jordan và Jung-Jungenthal .[26] còn Nhóm B gồm Ruhrstahl, Rheinstahl-HANOMAG và Henschel.[27] Các mô hình gỗ được hoàn thành vào năm 1959, trong khi hai nguyên mẫu đầu tiên do Nhóm A chế tạo hoàn tất trong năm 1961.[28]
Phát triển
[sửa | sửa mã nguồn]Sau khi Charles de Gaulle quyết định rằng Pháp tuy vẫn chính thức là thành viên của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương nhưng sẽ không còn tham gia vào cơ cấu quân sự của tổ chức này, quan hệ giữa Pháp và Tây Đức bắt đầu rạn nứt. Tây Đức chuyển sang nhấn mạnh việc tiêu chuẩn hóa trang bị theo tiêu chuẩn Mỹ, đặc biệt là vũ khí, đồng thời ủng hộ chính sách mới của NATO về việc sử dụng động cơ diesel đa nhiên liệu.[24] Bộ trưởng Quốc phòng Tây Đức Franz Josef Strauss bắt đầu phản đối dự án xe tăng chung giữa Pháp-Đức.[24] Tháng 7 năm 1963, Ủy ban Quốc phòng của Thượng viện Liên bang Tây Đức quyết định mua một mẫu xe tăng hoàn toàn do Đức tự phát triển.[29] Chính phủ Pháp ngay sau đó cũng đưa ra quyết định tương tự.[18]
Mặc dù vậy, từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1963, các cuộc thử nghiệm so sánh vẫn được tiến hành tại Mailly-le-Camp, Meppen, Bourges và Satory,[18] với sự tham gia của năm nguyên mẫu của Pháp và năm nguyên mẫu của Đức dưới sự giám sát của các đoàn quan sát đến từ Ý, Hà Lan, Bỉ và Hoa Kỳ.[29][30] Mẫu xe tăng của Pháp mang định danh AMX 30.[29] Kết quả thử nghiệm cho thấy mẫu xe tăng Leopard 1 của Đức có tnh cơ động và khả năng tăng tốc vượt trội.[29] Chính phủ Pháp đã quyết định chưa biên chế loại xe tăng mới cho đến năm 1965,[31] trong khi Đức từ chối sử dụng pháo tăng 105 mm do Pháp-Đức cùng phát triển mà sử dụng pháoRoyal Ordnance L7 của Anh, vốn đã được người Đức đặt mua 1.500 khẩu vào mùa thu năm 1962,[28][32] sau khi Rheinmetall không thể sản xuất một loại đạn tiêu chuẩn chất lượng cao.[24] Các đề xuất cứu vãn dự án bằng cách kết hợp tháp pháo của Pháp với khung gầm của Đức đều không thành công.[24] Kết quả là chương trình hợp tác bị hủy bỏ, và Pháp cùng Tây Đức chính thức lựa chọn tự phát triển hai mẫu xe tăng riêng biệt.[33]

Các nguyên mẫu AMX-30 có trọng lượng 32,5 tấn và sở hữu kích thước rất gọn, với chiều rộng 3,1 m, chỉ tương đương xe tăng Panzer 61 của Thụy Sĩ, và chiều cao 2,28 m, gần tương đương xe tăng T-55 của Liên Xô. Khác với AMX-50, AMX-30 sử dụng tháp pháo kiểu thông thường vì người ta nhận thấy việc bảo đảm độ kín của tháp pháo dao động trước bụi phóng xạ và nước khi xe lội ngầm khó khăn hơn.[25] Ngoài ra, tháp pháo dao động còn có điểm yếu lớn về khả năng chống đạn tại khu vực váy tháp và vòng tháp pháo.[34]
Hai nguyên mẫu đầu tiên ban đầu được trang bị động cơ đánh lửa cưỡng bức SOFAM 12 GSds công suất 720 mã lực (540 kW). Sau đó, chúng được thay bằng động cơ diesel đa nhiên liệu do Hispano-Suiza phát triển. Bảy nguyên mẫu AMX-30 chế tạo năm 1963 cũng được cải tạo theo tiêu chuẩn động cơ diesel mới.[35] Tháng 11 năm 1965, hai nguyên mẫu bổ sung, vốn được chế tạo như các xe tiền sản xuất, được bàn giao. Ngoài động cơ diesel, chúng còn có thân xe và tháp pháo đúc mới cùng mặt nạ pháo được thiết kế lại; chi tiết này sau đó tiếp tục được thay đổi trên các xe sản xuất hàng loạt[36]
Phiên bản sản xuất đầu tiên được đặt tên AMX-30B để phân biệt với các nguyên mẫu AMX-30A.[37] Những chiếc đầu tiên hoàn thành vào tháng 6 năm 1966, sử dụng thân xe kết hợp hàn và đúc cùng tháp pháo đúc nguyên khối.[13] Khối lượng chiến đấu của xe là 36 tấn.[38] Khả năng sống sót của AMX-30 dựa chủ yếu vào tính cơ động. Các kỹ sư Pháp cho rằng nếu bổ sung đủ giáp thép để chống lại các loại vũ khí chống tăng hiện đại, đặc biệt là đạn chống tăng nổ lõm (HEAT), thì khả năng cơ động của xe sẽ bị suy giảm nghiêm trọng. Vì vậy, AMX-30 trở thành xe tăng chiến đấu chủ lực có lớp giáp mỏng nhất trong số các mẫu được chế tạo cùng thời.[39] Tháp pháo có chiều dày giáp tối đa 50 mm; mặt trước nghiêng 70°, hai bên nghiêng 23°, đủ khả năng chống lại đạn xuyên giáp cỡ 20 mm.[40]
Chiều dày giáp theo đường ngắm (Line-of-Sight – LOS) gồm:
- Mặt trước thân xe: 79 mm.
- Hai bên phía trước thân xe: 59 mm.
- Hai bên phía sau và phía sau thân xe: 30 mm.
- Nóc và đáy thân xe: 15 mm.
- Mặt trước tháp pháo: 80,8 mm.
- Hai bên tháp pháo: 41,5 mm.
- Phía sau tháp pháo: 50 mm.
- Nóc tháp pháo: 20 mm.[41]
Xe còn được trang bị hệ thống phòng vệ hạt nhân, sinh học và hóa học (NBC), bao gồm hệ thống thông gió bảo vệ kíp lái.[42]
Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của AMX-30 là đạn chống tăng nổ lõm Obus à Charge Creuse de 105 mm Modèle F1 (Obus G)[38] cùng pháo chính Modèle F1 cỡ 105 mm bằng thép nguyên khối.[43][44] Đạn HEAT thông thường bị giảm hiệu quả khi quay ổn định do rãnh xoắn của nòng pháo,[45] vì vậy các kỹ sư Pháp đã phát triển Obus G.[35] (Gresse).[16]
Đạn Obus G gồm hai phần chính: vỏ ngoài và lõi bên trong treo trên các ổ bi. Nhờ đó, toàn bộ viên đạn vẫn quay để đạt độ chính xác cao như đạn thông thường, trong khi đầu đạn nổ lõm bên trong hầu như không quay, giúp luồng xuyên tạo thành với hiệu quả tối đa. Đầu đạn chứa 780 g thuốc nổ hexolite,[46] có thể xuyên tới 400 mm giáp thép và tiêu diệt xe tăng ở cự ly tới 3.000 m. Nhờ kết hợp độ chính xác cao với khả năng xuyên giáp gần như không phụ thuộc cự ly bắn, Obus G từng được coi là "loại đạn lý tưởng" của thời kỳ đó.[35]
Ngoài Obus G, AMX-30 còn có thể bắn:
- Đạn nổ mạnh OE F1 Mle.60.
- Đạn huấn luyện SCC F1.
- Đạn khói OFUM PH-105 F1.[47]
Pháo chính được trang bị cơ cấu hãm giật dài 380 mm, với hành trình giật tối đa 400 mm, góc hạ −8° và góc nâng +20°. Hỏa lực của tháp pháo còn được tăng cường bằng một súng máy đồng trục M2 Browning cỡ 12,7 mm. Chỉ huy xe sử dụng thêm một súng máy phòng không 7,62 mm lắp trên nóc tháp pháo.[48] Xe mang theo 50 viên đạn 105 mm,[48] 748 viên đạn 12,7 mm và 2.050 viên đạn 7,62 mm.[49]
Chỉ huy xe được trang bị một tháp chỉ huy với mười kính tiềm vọng quan sát toàn cảnh, cùng kính ngắm hai mắt có độ phóng đại 10 lần và máy đo xa quang học kiểu trùng ảnh toàn trường. Pháo thủ có kính ngắm dạng ống và hai kính tiềm vọng quan sát.[38]

Phiên bản sản xuất của AMX-30 sử dụng động cơ diesel Hispano-Suiza HS-110 đặt phía sau thân xe. Động cơ dung tích 28,8 lít có thể được thay thế ngay tại hiện trường trong khoảng 45 phút, sản sinh công suất 720 mã lực (540 kW), cho phép xe đạt tốc độ tối đa 65 km/h trên đường tốt. Nhờ mức tiêu hao nhiên liệu thấp và dung tích thùng nhiên liệu 970 lít, AMX-30 có tầm hoạt động tối đa khoảng 600 km.[50]
Động cơ truyền công suất qua ly hợp ly tâm hai đĩa Gravina G.H.B.200C.[51] Hộp số AMX 5-SD-200D có năm số tiến và năm số lùi. Hộp số này chịu ảnh hưởng mạnh từ hộp số của xe tăng Panther của Đức và được phát triển từ một thiết kế có từ năm 1938. Đây cũng là một trong những điểm yếu lớn nhất của AMX-30, gây ra nhiều sự cố cơ khí và buộc lái xe phải chuyển số thủ công đúng thời điểm ngay cả khi xe đang di chuyển trên địa hình gồ ghề.[52]
Trọng lượng xe được phân bố lên năm bánh chịu tải kép bằng hợp kim nhôm bọc cao su mỗi bên, sử dụng xích rộng 570 mm.[53] Xe có thể vượt chướng ngại nước sâu 1,3 m mà không cần chuẩn bị, sâu 2 m với chuẩn bị tối thiểu và sâu tới 4 m sau khi chuẩn bị đầy đủ.[39] Công tác chuẩn bị gồm lắp ống thở, các tấm che cửa hút gió khoang động cơ ở phía trước thân xe,[54] và thiết bị lái hồng ngoại cùng đèn pha hồng ngoại.[13] Năm 1969, một phương tiện huấn luyện lội ngầm và thoát hiểm chuyên dụng, không có động cơ và xích, được chế tạo với biệt danh AMX 30 Gloutte (từ tiếng Pháp faire glouglou, nghĩa là "sủi bọt"); phương tiện này có thể nhanh chóng được hạ xuống bể nước bằng tời và được trang bị một ống thoát hiểm.[55]
Hiện đại hóa
[sửa | sửa mã nguồn]
Trong quá trình sản xuất, AMX-30 liên tục được cải tiến. Tuy nhiên, đến năm 1971 xe vẫn chưa được trang bị hệ thống ổn định pháo, và mãi đến năm 1972,[56] súng máy hạng nặng đồng trục nguyên bản mới được thay thế bằng pháo tự động 20 mm đa dụng, có khả năng tác chiến chống các mục tiêu bọc giáp hạng nhẹ và trực thăng, với góc hạ −8° và góc nâng +40°.[46] Toàn bộ các xe AMX-30B trong biên chế Lục quân Pháp cuối cùng đều được nâng cấp theo tiêu chuẩn mới này; tuy nhiên, định danh của chúng vẫn được giữ nguyên là AMX-30B.[57]

Bắt đầu từ năm 1973, chỉ bảy năm sau khi AMX-30 được đưa vào sản xuất, Quân đội Pháp đã khởi động một chương trình nghiên cứu nhằm phát triển gói nâng cấp cho xe tăng này.[58] Dự án đó sau này dẫn tới phiên bản AMX 30 Valorisé ("AMX-30 nâng cấp").[59] Tháng 6 năm 1979, Lục quân Pháp quyết định vừa chế tạo mới vừa hiện đại hóa các xe AMX-30 hiện có bằng cách trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực cải tiến và hộp số mới; phiên bản này được định danh là AMX-30B2.[60] Những chiếc AMX-30B2 sản xuất mới đầu tiên được đưa vào biên chế vào tháng 1 năm 1982.[61]
Các cải tiến của hệ thống điều khiển hỏa lực COTAC APX M-508 bao gồm việc lắp máy đo xa laser và thiết bị ngắm truyền hình trong điều kiện ánh sáng yếu (LLTV).[62] Hỏa lực của pháo chính được tăng cường nhờ việc đưa vào sử dụng đạn xuyên giáp ổn định bằng cánh đuôi, tách vỏ (APFSDS) mới. Động cơ nguyên bản được thay bằng phiên bản cải tiến HS-110.2, cho công suất 680 mã lực (510 kW). Hộp số cũ vốn nổi tiếng kém tin cậy được thay bằng hộp số bán tự động SESM ENC200 (nay là RENK France), tích hợp bộ biến mô. Hệ thống treo cũng được cải tiến với thanh xoắn và giảm xóc mới, giúp tăng hành trình dao động thẳng đứng của các bánh chịu tải,[63] qua đó nâng cao khả năng cơ động trên địa hình gồ ghề.[64] Từ năm 1998, Lục quân Pháp tiếp tục thay thế động cơ của các xe tăng AMX-30 và các biến thể còn phục vụ bằng 500 động cơ Renault Mack E9 công suất 750 mã lực.[65]
Mặc dù xe tăng Leclerc đã được đặt mua từ thập niên 1990, AMX-30 vẫn giữ vai trò quan trọng trong Lục quân Pháp, và hai gói nâng cấp tiếp theo đã được triển khai với số lượng hạn chế dành cho lực lượng phản ứng nhanh của Pháp, gồm hai trung đoàn xe tăng 1er Chasseurs và 2e Chasseurs. Gói nâng cấp thứ nhất là hệ thống giáp phản ứng nổ (ERA) mang tên BRENUS. Gói thứ hai là việc mua 500 động cơ diesel tăng áp Renault RVI Mack E9 công suất 750 mã lực.[66] Trong thời bình, hai trung đoàn xe tăng này được hợp nhất thành một đơn vị;[60][67] trong khi đó, hai trung đoàn AMX-30 còn lại là 2e và 5e Dragons[68] chỉ được cải tạo để có thể nhanh chóng nâng cấp khí tài khi cần thiết trong tình huống khẩn cấp.[65]
Hệ thống BRENUS sử dụng 112 khối giáp phản ứng nổ GIAT BS (Brique de Surblindage) G2,[69] có tổng khối lượng 1,7 tấn, mang lại mức bảo vệ tương đương 400 mm thép nghiêng 60° trước đầu đạn nổ lõm[65] và hơn 100 mm thép trước các đầu đạn động năng như APFSDS.[70] Trong thập niên 1990, AMX-30 còn được sử dụng làm nền tảng thử nghiệm cho một số công nghệ tàng hình, bao gồm hệ thống làm mát bề mặt thân xe bằng không khí và ngụy trang quang học. Nguyên mẫu này được gọi là Démonstrateur Furtif à Chenille (Mẫu trình diễn xe bánh xích tàng hình).[71] Toàn bộ thân và tháp pháo được bao phủ bởi một kết cấu bên ngoài gồm các tấm nghiêng làm từ vật liệu hấp thụ sóng radar.[65]
Vào cuối thập niên 1980, một liên danh các công ty Tây Đức đã phát triển gói nâng cấp Super AMX-30 dành cho AMX-30B. Liên danh này gồm AEG, Krupp Atlas Elektronik, MTU, Wegmann & Co., Diehl, ZF Friedrichshafen và GLS. Gói nâng cấp về hệ thống động lực bao gồm động cơ diesel MTU MB833 Ka501 công suất 850 mã lực, hộp số tự động ZF LSG-3000, hệ thống làm mát động cơ mới và tăng dung tích nhiên liệu lên 1.028 lít. Các cải tiến về khả năng cơ động bao gồm thanh xoắn mới, giảm xóc thủy lực, bánh chịu tải có đường kính lớn hơn một chút và xích Diehl Type 234. Hệ thống điều khiển hỏa lực được thay bằng hệ thống MOLF-30 mô-đun của Krupp Atlas Elektronik, kết hợp pháo ổn định bằng con quay hồi chuyển, kính ngắm ngày/đêm cho pháo thủ, máy đo xa laser và hệ thống truyền động tháp pháo hoàn toàn bằng điện. Theo yêu cầu của khách hàng, xe cũng có thể được trang bị thêm giáp tăng cường cho tháp pháo. Chỉ một nguyên mẫu được chế tạo; nó đã được công khai giới thiệu và thử nghiệm tại Ả Rập Xê Út, nhưng cuối cùng gói nâng cấp này không tìm được khách hàng.[72]
So sánh với các loại xe tăng khác
[sửa | sửa mã nguồn]| Thông số | M60A1[73] | Leopard 1A1[74] | AMX-30B[75] | T-55[76] | T-62[77] | T-64A[78] | Chieftain Mk.2 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Khối lượng | 47,62 tấn | 41,5 tấn | 36 tấn | 36 tấn | 40 tấn | 38 tấn | 54 tấn |
| Pháo chính | Pháo nòng xoắn M68 105 mm | Pháo nòng xoắn L7A3 105 mm | Pháo nòng xoắn L/56 F1 105 mm | Pháo nòng xoắn D-10T2S 100 mm | Pháo nòng trơn U-5T 115 mm | Pháo nòng trơn D-68 125 mm | Pháo nòng xoắn L11 120 mm |
| Cơ số đạn | 63 viên[79] | 55 viên | 50 viên | 43 viên | 40 viên | 36 viên | 62 viên |
| Tầm hoạt động trên đường | 480 km | 600 km | 600 km | 500 km | 450 km | 500 km | 500 km |
| Công suất động cơ | 750 mã lực (560 kW) | 830 mã lực (620 kW) | 720 mã lực (540 kW) | 580 mã lực (430 kW) | 580 mã lực (430 kW) | 700 mã lực (520 kW)[80] | 750 mã lực (560 kW) |
| Tốc độ tối đa trên đường | 48 km/h | 65 km/h | 65 km/h | 50 km/h | 50 km/h | 60 km/h | 40 km/h |
| Giáp phía trước tháp pháo | 250 mm (theo đường ngắm – LOS)[81] | 60 mm (tháp pháo bo tròn)[82] | 80,8 mm[41] | 203 mm[83] | 242 mm[84] | 450 mm | 390 mm |
| Giáp trước thân xe | 109 mm, nghiêng 65°[85] | 70 mm, nghiêng 60°[82] | 80 mm, nghiêng 68°[41] | 97 mm, nghiêng 58°[83] | 102 mm, nghiêng 60°[84] | 430 mm (theo đường ngắm – LOS) | 388 mm (theo đường ngắm – LOS) |
Các phiên bản
[sửa | sửa mã nguồn]
Xe tăng AMX-30 có nhiều biến thể khác nhau, bao gồm cả một số phương tiện chiến đấu bọc thép khác sử dụng chung khung gầm.
Một phiên bản đơn giản hóa của xe tăng, không có đèn pha hồng ngoại và các kính tiềm vọng, đồng thời sử dụng tháp chỉ huy của trưởng xe đơn giản hơn, đã được phát triển để xuất khẩu, được gọi là "AMX-30 cơ bản" (basic AMX-30). Phiên bản này cũng không được trang bị hệ thống lọc không khí tăng áp chống tác nhân hạt nhân, sinh học và hóa học (NBC), đồng thời chuyển súng máy 7,62 mm sang vị trí đồng trục với pháo chính và lắp súng máy M2 12,7 mm trên nóc tháp pháo.
Một biến thể khác từng được nghiên cứu cho Lục quân Pháp sử dụng pháo tăng 142 mm có khả năng bắn tên lửa chống tăng dẫn đường siêu thanh ACRA (Anti-Char Rapide Autopropulsé,[86] "tên lửa chống tăng tự hành tốc độ cao"), đồng thời cũng có thể bắn đạn nổ mạnh. Một nguyên mẫu được hoàn thành vào năm 1967 với tháp pháo đúc mới có kích thước đủ lớn để lắp loại vũ khí cỡ lớn này.[87] Tuy nhiên, do chi phí của tên lửa quá cao, Lục quân Pháp đã hủy bỏ chương trình vào năm 1972.[88]
Các phương tiện khác được phát triển trên khung gầm AMX-30 bao gồm:
- xe cứu kéo bọc thép;
- xe đặt cầu;
- xe pháo phòng không tự hành;
- xe mang bệ phóng tên lửa hạt nhân chiến thuật;
- pháo tự hành.[89]

AMX-30D – Dépanneur-Niveleur
[sửa | sửa mã nguồn]Xe cứu kéo bọc thép AMX-30D (AMX-30 Dépanneur-Niveleur) được thiết kế để thu hồi hoặc hỗ trợ sửa chữa các phương tiện chiến đấu trên chiến trường. Công việc phát triển AMX-30D bắt đầu vào năm 1966, khi Lục quân Pháp nghiên cứu chế tạo một loại xe cứu kéo chuyên dụng để trang bị cho các đơn vị sử dụng xe tăng AMX-30. Một nguyên mẫu được chế tạo và bàn giao để thử nghiệm vào năm 1971, và đến tháng 2 năm 1973, năm chiếc đầu tiên thuộc lô tiền sản xuất được bàn giao. Cũng trong năm đó, thêm 100 chiếc AMX-30D được đặt hàng và bắt đầu được sản xuất từ năm 1975.[90]
Xe cứu kéo được trang bị một tời chính dẫn động bằng động cơ của xe, có khả năng kéo tối đa 35 tấn. Tời này sử dụng cáp kéo hạng nặng dài 80 m. Ngoài ra, xe còn có một tời phụ với cáp dài 120 m, có khả năng kéo tải trọng tới 20 tấn khi hoạt động qua phía trước xe. Trong trường hợp này, xe phải được chống đỡ bằng các chân chống tháo lắp được mang theo trên xe, đồng thời lưỡi ủi phía trước phải được hạ xuống đất để tăng độ ổn định.
Cần cẩu của AMX-30D có khả năng nâng cụm động lực nặng 3,29 tấn hoặc tháp pháo nặng 10 tấn. Thay vì trang bị tháp pháo, AMX-30D được lắp một kết cấu thượng tầng cố định. Xe có khối lượng chiến đấu 36 tấn, nhưng khi mang theo cụm động lực dự phòng thì khối lượng có thể tăng lên tới 40 tấn. Để tự vệ, xe được trang bị một súng máy 7,62 mm.[91]
Khả năng quan sát của lái xe được hỗ trợ bởi ba kính quan sát M-223. AMX-30D có tốc độ tối đa trên đường đạt 60 km/h và tầm hoạt động tối đa khoảng 500 km.[92]
AMX-30H – Poseur de pont
[sửa | sửa mã nguồn]Xe bắc cầu AMX-30H (AMX-30 Poseur de pont) được phát triển trên khung gầm xe tăng AMX-30, thay tháp pháo bằng một kết cấu thượng tầng dạng hộp để mang một cầu gấp kiểu kéo cắt. Cầu dài 22 m, có thể bắc qua các khoảng trống rộng tới 20 m. Chiều rộng tiêu chuẩn của cầu là 3,1 m, nhưng có thể tăng lên 3,95 m bằng cách lắp thêm các tấm mở rộng. Cầu có khả năng chịu tải tối đa 46 tấn.[93]
Việc phát triển xe bắc cầu bắt đầu từ năm 1963, mặc dù phải đến tháng 6 năm 1967 nguyên mẫu mới chính thức được triển khai. Nguyên mẫu mang định danh AMX-30H được hoàn thành vào năm 1968, nhưng mãi đến năm 1971 mới được đưa vào thử nghiệm. Sau khi kết thúc các cuộc đánh giá vào tháng 9 năm 1971, một lô tiền sản xuất gồm năm xe được đặt hàng, dẫn đến một giai đoạn thử nghiệm mới bắt đầu từ ngày 16 tháng 10 năm 1972. Năm 1975, AMX-30H được chấp nhận là xe bắc cầu tiêu chuẩn của Lục quân Pháp, mặc dù trên thực tế Pháp không đặt mua bất kỳ chiếc nào.[94] Dù vậy, 12 xe đã được bán cho Lục quân Ả Rập Xê Út.[95][96]

AMX-30 DCA – défense contre avion
[sửa | sửa mã nguồn]Xe pháo phòng không tự hành này bắt đầu được phát triển vào năm 1969 nhằm đáp ứng nhu cầu trang bị của Lục quân Pháp cũng như phục vụ xuất khẩu. Mặc dù cuối cùng Lục quân Pháp không đặt mua, đến năm 1975 Ả Rập Xê Út đã đặt hàng một phiên bản cải tiến gồm 53 xe, được định danh là AMX-30SA (ban đầu gọi là AMX-30 DCA, viết tắt của défense contre avion – "phòng không").[97]
Được thiết kế để đối phó với các mục tiêu bay ở độ cao thấp, hệ thống này được trang bị hai pháo tự động Hispano-Suiza 831 A cỡ 30 mm, kết hợp với hệ thống điều khiển hỏa lực Oeil-noir. Trước đó, hệ thống này đã được lắp trên xe tăng hạng nhẹ AMX-13 bằng cách sử dụng tháp pháo S 401 A. Mặc dù phiên bản AMX-13 đã được đưa vào sản xuất từ năm 1962, sự xuất hiện của AMX-30 đã cung cấp một khung gầm lớn hơn để lắp tháp pháo S 401 A, nhờ đó đem lại khả năng cơ động cao hơn.
Khung gầm nặng hơn của AMX-30 cũng tạo nên một bệ bắn ổn định hơn cho hai khẩu pháo, đồng thời cho phép xe mang theo lượng đạn lớn hơn nhiều: 1.200 viên, so với 600 viên trên phiên bản AMX-13. Hai khẩu pháo được thiết kế để bắn theo loạt 5 viên hoặc 15 viên, với tốc độ bắn lý thuyết 650 phát/phút mỗi khẩu. Hệ thống được điều khiển bằng một máy tính hỏa lực tương tự (analog), nhận dữ liệu từ một ra-đa Doppler, có thể gập xuống bên trong một hộp bọc giáp khi không sử dụng để tránh hư hỏng. Tuy nhiên, việc điều khiển hỏa lực vẫn phụ thuộc vào việc bám bắt mục tiêu bằng mắt thường, nên hệ thống chỉ có thể hoạt động hiệu quả vào ban ngày và trong điều kiện thời tiết quang đãng.[98]

AMX-30R and Pluton
[sửa | sửa mã nguồn]Ba hệ thống phóng tên lửa khác nhau đã được phát triển trên khung gầm AMX-30.[97]
Nhận thấy nhu cầu về một bệ phóng cơ động cho tên lửa hạt nhân chiến thuật, Lục quân Pháp bắt đầu phát triển tên lửa Pluton vào năm 1963. Năm 1964, chương trình tạm thời bị đình chỉ và quân đội quyết định chuyển sang phát triển một loại tên lửa có tầm bắn xa hơn, có thể lắp trên khung gầm AMX-30. Hợp đồng phát triển hệ thống được ký kết vào năm 1968. Nguyên mẫu đầu tiên nhanh chóng được hoàn thành và đưa vào thử nghiệm trong khoảng từ tháng 7 đến tháng 8 năm 1970, tiếp theo là nguyên mẫu thứ hai vào năm 1971. Hai nguyên mẫu nữa được chế tạo trong năm 1972. Đến năm 1973, hệ thống được đưa vào sản xuất hàng loạt và đến ngày 1 tháng 5 năm 1974, bốn xe đầu tiên đã được biên chế cho Trung đoàn Pháo binh số 3.[99] Tên lửa Pluton có khối lượng 2,4 tấn và dài 7,6 m. Tên lửa sử dụng hệ thống dẫn đường quán tính đơn giản kết hợp động cơ tên lửa nhiên liệu rắn, cho tầm bắn tối đa 120 km.[100]
Hệ thống tên lửa thứ hai là AMX-30R (Roland), một hệ thống tên lửa đất đối không, được khởi động phát triển vào năm 1974. Đến năm 1977, năm xe thuộc lô tiền sản xuất đã được hoàn thành và đưa vào đánh giá. Kết quả thử nghiệm dẫn đến việc đặt hàng 183 xe ngay trong năm đó.[101]
AMX-30R được trang bị một kết cấu thượng tầng hình hộp chữ nhật, cao hơn so với cả AMX-30D và Pluton. Bên trong thượng tầng là hệ thống ra-đa, trong khi hai bên lắp hai ống phóng tên lửa. Hệ thống nạp đạn tự động lấy tên lửa từ kho chứa tám quả đặt bên trong thượng tầng. Ra-đa tìm kiếm của hệ thống Roland có tầm phát hiện mục tiêu lên tới 16 km.
Hệ thống tên lửa thứ ba, mang tên AMX-30SA SAM, được phát triển vào năm 1975 theo yêu cầu của Ả Rập Xê Út để mang và phóng tên lửa đất đối không SA-10 Shahine, do Thomson-CSF phát triển và chế tạo. Xe mang bệ phóng này được phát triển chủ yếu dựa trên AMX-30R.[102]
AMX 30 AuF1 canon automoteur
[sửa | sửa mã nguồn]Canon automoteur de 155 GCT (Grande Cadence de Tir – "tốc độ bắn cao") là pháo tự hành được phát triển trên khung gầm AMX-30 nhằm cung cấp hỏa lực chi viện chiến thuật cho các đơn vị của Lục quân Pháp, nơi nó được định danh là AMX 30 AuF1.
Xe được trang bị một pháo lựu cỡ 155 mm có chiều dài nòng 40 calib, sử dụng hệ thống nạp đạn tự động, cho phép đạt tốc độ bắn tối đa 8 phát/phút. Khi sử dụng đạn LU211, pháo có tầm bắn tối đa 30 km. Tháp pháo cho phép pháo nâng đến góc 66° và quay tròn 360°.

Xe mang theo 42 viên đạn, sử dụng liều phóng với vỏ đạn cháy được (combustible cartridge case), giúp giảm lượng vỏ đạn cần xử lý sau khi bắn.[103] Quyết định phát triển loại pháo tự hành này có từ năm 1969, nguyên mẫu đầu tiên được hoàn thành vào năm 1972. Đến năm 1979, đã có 7 nguyên mẫu và 6 xe tiền sản xuất được chế tạo, trước khi bước vào sản xuất hàng loạt với đơn đặt hàng ban đầu 110 xe. Sau đó, đơn đặt hàng này được tăng lên 190 xe.[104]
AMX 32
[sửa | sửa mã nguồn]Nguyên mẫu đầu tiên của một phiên bản AMX-30 cải tiến dành cho thị trường xuất khẩu, mang tên AMX-32, được giới thiệu vào tháng 6 năm 1979.
Ban đầu, AMX-32 được phát triển như một phương án thay thế cho AMX-30B2. Thiết kế của nó chủ ý áp dụng khái niệm giáp cách quãng (spaced armour) mà Đức đã triển khai thành công trên các xe tăng Leopard 1A3 và Leopard 1A4.[105]
Nhờ đó, AMX-32 có khả năng bảo vệ tốt hơn, nhằm tăng khả năng sống sót trước các cuộc tấn công bằng tên lửa chống tăng có điều khiển.
Ngoài ra, xe còn được trang bị một pháo tự động 20 mm làm vũ khí đồng trục với pháo chính, cùng một súng máy 7,62 mm lắp trên nóc tháp pháo.
Tuy nhiên, mặc dù được phát triển để xuất khẩu, AMX-32 không nhận được bất kỳ đơn đặt hàng nào.[106]
Sản xuất
[sửa | sửa mã nguồn]
Việc sản xuất AMX-30 được thực hiện tại Xưởng Chế tạo Roanne (Atelier de Construction de Roanne) ở thành phố Roanne.
Nhà máy công nghiệp nặng này được xây dựng trong Chiến tranh thế giới thứ nhất để sản xuất đạn pháo, nhưng đến năm 1952 đã bắt đầu chế tạo các phương tiện chiến đấu bọc thép. Trước khi sản xuất AMX-30, nhà máy này đã chế tạo khoảng 1.900 xe AMX-13 và các biến thể của nó.
Nhà máy Roanne chịu trách nhiệm lắp ráp hoàn thiện, trong khi phần lớn các cụm chi tiết được sản xuất tại những cơ sở khác:
- Cụm động lực do Xưởng Chế tạo Limoges (Atelier de Construction de Limoges) sản xuất.
- Toàn bộ giáp do Ateliers et Forges de la Loire chế tạo.
- Tháp pháo do Xưởng Chế tạo Tarbes (Atelier de Construction de Tarbes) sản xuất.
- Pháo do Xưởng Chế tạo Bourges (Atelier de Construction de Bourges) chế tạo.
- Tháp chỉ huy và súng máy do Xưởng Chế tạo Vũ khí Saint-Étienne (Manufacture d'Armes de Saint-Étienne) sản xuất.
- Các thiết bị quang học do Xưởng Chế tạo Puteaux (Atelier de Construction de Puteaux) chế tạo.
Bản thân các cơ sở này cũng sử dụng nhiều nhà thầu phụ.[46] Sau một loạt vụ sáp nhập doanh nghiệp dưới sự chỉ đạo của nhà nước, phần lớn các đơn vị này cuối cùng đều được sáp nhập vào GIAT.[57]
Ban đầu, Lục quân Pháp đặt hàng 300 xe AMX-30, nhưng đến năm 1971 số lượng đã tăng lên 900 xe, được chia thành tám lô sản xuất, bao gồm cả các biến thể sử dụng chung khung gầm.[88][36] ừ năm 1966, mỗi tháng có khoảng 10 xe AMX-30 được lắp ráp. Năm chiếc đầu tiên được biên chế vào tháng 8 năm 1966 cho Trung đoàn Xe tăng số 501. Khi các nhà máy mới bắt đầu sản xuất linh kiện và các cơ sở hiện có mở rộng năng lực, sản lượng hàng tháng tăng lên 15–20 xe.[107] Tuy nhiên, từ tháng 4 năm 1969, sản lượng lại giảm xuống còn 10 xe mỗi tháng.[108] Đến năm 1971, khoảng 180 xe đã được đưa vào biên chế. Năm 1975 bắt đầu bàn giao 143 xe cuối cùng của lô sản xuất thứ tám, cũng là lô cuối cùng trong đơn đặt hàng ban đầu.[59] Đến năm 1985, tổng số AMX-30 trong biên chế Lục quân Pháp đã đạt 1.173 xe.[109]
Khi kết thúc quá trình sản xuất, Pháp đã tiếp nhận 1.355 xe tăng AMX-30,[107] trong đó có 166 chiếc AMX-30B2 sản xuất mới. Ngoài ra, 493 xe được nâng cấp lên tiêu chuẩn AMX-30B2.[110] Ban đầu, kế hoạch là chế tạo 271 xe mới và nâng cấp 820 xe.[111]
Lục quân Pháp cũng tiếp nhận nhiều biến thể khác của khung gầm AMX-30, bao gồm:
- 195 pháo tự hành;
- 44 bệ phóng tên lửa hạt nhân chiến thuật AMX-30 Pluton;
- 183 xe phòng không AMX-30R Roland;
- 134 xe cứu kéo bọc thép AMX-30D;
- 48 xe công binh AMX-30EBG.[112]
Đơn đặt hàng cuối cùng đối với xe tăng chiến đấu chủ lực AMX-30 sản xuất mới là 35 chiếc dành cho Síp vào năm 1989. Biến thể cuối cùng được sản xuất là 20 pháo tự hành GCT, do Pháp đặt hàng vào năm 1994.[113]
Đến cuối thập niên 1990, Lục quân Pháp bắt đầu tiếp nhận xe tăng chiến đấu chủ lực Leclerc để thay thế AMX-30 đã trở nên lạc hậu.[114] Các đơn vị đầu tiên được tái trang bị Leclerc là Trung đoàn Xe tăng số 501 và Trung đoàn Xe tăng số 503, tiếp theo là Trung đoàn Thiết kỵ số 6 và Trung đoàn Thiết kỵ số 12.[115]
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Foss (2006), p. 30
- 1 2 3 4 Ogorkiewicz, p. 2
- ↑ de Mazarrasa (1990), p. 7
- ↑ de Mazarrasa (1990), pp. 7–8
- 1 2 3 de Mazarrasa (1990), p. 8
- ↑ Tank Encyclopedia - Lorraine 50t (Fake Tank)
- ↑ Miller, pp. 84–85
- 1 2 3 Jeudy, p. 215
- ↑ Ogorkiewicz, pp. 2–3
- 1 2 3 Ogorkiewicz, p. 3
- ↑ de Mazarrasa (1990), pp. 8–9
- ↑ These were delivered between 1954 and 1956; Zaloga (1999), p. 13
- 1 2 3 Miller, p. 85
- 1 2 3 4 Jeudy, p. 252
- ↑ Spielberger, p. 113
- 1 2 3 4 5 6 7 Jeudy, p. 253
- ↑ Spielberger, p. 124
- 1 2 3 Caiti, p. 33
- ↑ Ogorkiewicz, pp. 3–5
- ↑ Hilmes, pp. 16–17
- ↑ Mercillon, p. 38
- ↑ de Mazarrasa (1990), p. 9
- ↑ Foss (1986), p. 21
- 1 2 3 4 5 Jeudy, p. 254
- 1 2 Ogorkiewicz, p. 5
- ↑ Jerchel, p. 3
- ↑ Jerchel, pp. 3–4
- 1 2 Jerchel, p. 4
- 1 2 3 4 Spielberger, p. 128
- ↑ Jerchel, p. 6
- ↑ Jerchel, p. 7
- ↑ Spielberger, p. 117
- ↑ Hilmes, p. 17
- ↑ Simpkin, p. 139
- 1 2 3 Ogorkiewicz, p. 6
- 1 2 Jeudy, p. 255
- ↑ Crow, p. 140
- 1 2 3 Ogorkiewicz, p. 8
- 1 2 Foss (1976), p. 14
- ↑ de Mazarrasa (1990), p. 28
- 1 2 3 Foss (1986), p. 28
- ↑ Miller, p. 88; de Mazarrasa (1990), p. 28
- ↑ de Mazarrasa (1990), pp. 21–22
- ↑ The gun was protected from bending with a magnesium alloy thermal sleeve; Ogorkiewicz, p. 8
- ↑ Ferrari, p. 87
- 1 2 3 Caiti, p. 34
- ↑ de Mazarrasa (1990), p. 23
- 1 2 de Mazarrasa (1990), p. 22
- ↑ de Mazarrasa (1990), p. 24
- ↑ Ogorkiewicz, p. 9
- ↑ de Mazarrasa (1990), p. 26
- ↑ de Mazarrasa (1990), p. 27
- ↑ Ogorkiewicz, p. 10
- ↑ Ogorkiewicz, pp. 9–10
- ↑ Jeudy, p. 257
- ↑ Crow, p. 141
- 1 2 Jeudy, p. 256
- ↑ de Mazarrasa (1990), p. 71
- 1 2 Caiti, p. 37
- 1 2 Miller, p. 89
- ↑ Foss (1986), p. 24
- ↑ Bishop, p. 220
- ↑ de Mazarrasa (1990), p. 72
- ↑ Simpkin, p. 106
- 1 2 3 4 Foss (2005), p. 30
- ↑ Jeudy, p. 265
- ↑ Foss (2003), p. 429
- ↑ Berthemy, p. 18
- ↑ Berthemy, p. 17
- ↑ MH (tháng 5 năm 1996). Lightweight add-on armour improves tank protection. Jane's International Defense Review. tr. 17.
- ↑ Biass & Richardson, p. 62
- ↑ Nikolskiy, M.; Baryatinskiy, M. (2007). ""Леклерк" и другие французские основные боевые танки". Бронеколлекция 2007 № 05 (74) (bằng tiếng Nga). Moscow: Редакция журнала "Моделист-конструктор". tr. 12–14.
- ↑ Lathrop & McDonald, p. 28
- ↑ Jerchel, p. 28
- ↑ Ogorkiewicz, p. 20
- ↑ Zaloga (2004), p. 29
- ↑ Zaloga (1979), p. 20
- ↑ "T-64". www.militaryfactory.com.
- ↑ Hunnicutt, R.P. (1984). Patton: A History of the American MBT. Presidio. tr. 440.
- ↑ "T-64 Main Battle Tank". www.inetres.com.
- ↑ Gelbart, p. 21
- 1 2 Foss (1986), p. 40
- 1 2 Foss (1986), p. 94
- 1 2 Foss (1986), p. 87
- ↑ Foss (1986), p. 138
- ↑ Foss (1976), p. 16
- ↑ Jeudy, p. 260
- 1 2 Ogorkiewicz, p. 14
- ↑ Ogorkiewicz, pp. 14–16
- ↑ de Mazarrasa (1990), p. 36
- ↑ Ogorkiewicz, p. 16
- ↑ de Mazarrasa (1990), p. 37
- ↑ Ogorkiewicz, pp. 16–18
- ↑ de Mazarrasa (1990), pp. 37–38
- ↑ AMX-30H AVLB
- ↑ "The AMX-30H AVLB Bridgelayer". ngày 15 tháng 7 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2021.
- 1 2 de Mazarrasa (1990), p. 38
- ↑ Ogorkiewicz, pp. 18–19
- ↑ de Mazarrasa (1990), p. 39
- ↑ Ogorkiewicz, pp. 19–20
- ↑ de Mazarrasa (1990), pp. 39–40
- ↑ de Mazarrasa (1990), p. 40
- ↑ Orgokiewicz, p. 20
- ↑ de Mazarrasa (1990), pp. 40–41
- ↑ Jeudy, p. 262
- ↑ Miller, pp. 90–93
- 1 2 de Mazarrasa (1990), p. 47
- ↑ Senger und Etterlin, p. 125
- ↑ Foss (1986), p. 167
- ↑ Miller, p. 8
- ↑ Jeudy, p. 261
- ↑ de Mazarrasa (1990), pp. 47–48
- ↑ Foss (2005), p. 27
- ↑ Moncure, p. 38
- ↑ Moncure, p. 39
Nguồn
[sửa | sửa mã nguồn]- Berthemy, Hubert (2000). "La Cavalerie Française en 2002". Tank Museum News (bằng tiếng Pháp). Số 60 third trimester. Brussels: L'A.S.B.L. "Tank Museum".
- Biass, Eric H.; Doug Richardson (ngày 1 tháng 6 năm 2003). "Time for Shifting Gears?" (PDF). Armada International. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2009.
- Bishop, Chris (2006). The Encyclopedia of Tanks and Armored Fighting Vehicles: From World War I to the Present Day. San Diego, CA: Thunder Bay. ISBN 978-1-59223-626-8.
- Caiti, Pierangelo (1978). Modern Armour: The World's Battle Tanks Today. London: Arms and Armour Press. ISBN 0-85368-412-X.
- Chant, Cristopher (1996). World Encyclopaedia of the Tank: An International History of the Armoured Fighting Machine. Somerset: Patrick Stephens Limited. ISBN 1-85260-114-0.
- Cogan, Charles (2001). The Third Option, The Emancipation of European Defense, 1989–2000. Westport, USA: Praeger. ISBN 0-275-96948-7.
- Cordesman, Anthony H.; Burke, Arleigh A. (ngày 30 tháng 10 năm 2001). Saudi Arabia Enters the 21st Century: The Military and International Security Dimension, IV. The Saudi Army. Center for Strategic and International Studies. ISBN 978-0-275-97997-3.
- Crow, Duncan; Robert J. Icks (1975). Encyclopedia of Tanks. London, United Kingdom: Barrie & Jenkins. ISBN 0-214-20080-9.
- de Mazarrasa, Javier (1994). Blindados en España 2ª Parte: La Dificil Postguerra 1939–1960 (bằng tiếng Tây Ban Nha). Valladolid, Spain: Quiron Ediciones. ISBN 84-87314-10-4.
- de Mazarrasa, Javier (1990). Carro de Combate AMX-30E (bằng tiếng Tây Ban Nha). Aldaba Ediciones. ISBN 84-86629-29-2.
- Dunstan, Simon (2003). Chieftain Main Battle Tank 1965–2003. Osprey Publishing. ISBN 978-1-84176-719-2.
- Ferrari, Giorgio (tháng 10 năm 1988). "The "Hows" and "Whys" of Armour Penetration". Military Technology (10/1988). Moench Verlagsgesellschaft Mbh.
- Christopher F. Foss (1976). Jane's World Armoured Fighting Vehicles. Macdonald and Jane's Publishers Limited. ISBN 0-354-01022-0.
- Foss, Christopher F. (1986). Jane's Main Battle Tanks (ấn bản thứ 2). Jane's Publishing Company Limited. ISBN 0-7106-0372-X.
- Foss, Christopher F. (ngày 4 tháng 1 năm 2003). Great Book of Tanks: The World's Most Important Tanks from World War I to the Present Day. Zenith Press. ISBN 978-0-7603-1475-3.
- Foss, Christopher F. (2005). Jane's Armour and Artillery, 2005–2006. Jane's Information Group. ISBN 0-7106-2686-X.
- Foss, Christopher F. (2006). Jane's Tank Recognition Guide. London, United Kingdom: Harper Collins. ISBN 978-0-00-718326-5.
- Gelbart, Marsh (2004). Modern Israeli Tanks and Personnel Carriers 1985–2004. Oxford, United Kingdom: Osprey. ISBN 1-84176-579-1.
- Hilmes, Rolf (ngày 1 tháng 1 năm 2001). "Battle Tanks for the Bundeswehr: Modern German Tank Development, 1956–2000". Armor. Số January–February 2001. Fort Knox, KY: US Army Armor Center. ISSN 0004-2420.
- Jerchel, Michael (1995). Leopard 1 Main Battle Tank 1965–1995. Oxford, United Kingdom: Osprey. ISBN 1-85532-520-9.
- Jeudy, Jean-Gabriel (1997). Chars de France (bằng tiếng Pháp). Boulogne: E.T.A.I. ISBN 2-7268-8369-9.
- Lathrop, Richard; John McDonald (2003). M60 Main Battle Tank 1960–91. Oxford, United Kingdom: Osprey. ISBN 1-84176-551-1.
- Mercillon, Patrick H. Les Chars Français du Musée des Blindés (bằng tiếng Pháp). Saumur: Centre de Documentations sur les Engins Blindés.
- Miller, David (2000). The Illustrated Directory of Tanks and Fighting Vehicles: From World War I to the Present Day. Osceola, WI: MBI. ISBN 978-0-7603-0892-9.
- Moncure, John (ngày 1 tháng 3 năm 1997). "Leclerc: New French Tank, Like the M1A2, Uses Digital Architecture" (PDF). ARMOR magazine. Fort Benning, GA: US Army Armor Center. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2020.
- Ogorkiewicz, Richard M. (tháng 12 năm 1973). AMX-30 Battle Tank. Berkshire, United Kingdom: Profile Publications Ltd. OCLC 54349455.
- Perez-Guerra, Jaime (ngày 1 tháng 4 năm 1987). "Spanish AMX-30 MBT upgrade program". Jane's International Defence Review. Jane's.
- Perrett, Bryan (1995). Iron Fist: Classic Armoured Warfare Case Studies. London, United Kingdom: Brockhampton Press. ISBN 1-86019-954-2.
- Rottman, Gordon (1993). Armies of the Gulf War. Oxford, United Kingdom: Osprey. ISBN 1-85532-277-3.
- Rudnick, David (tháng 4 năm 1976). "Atlantic Relations: Policy Co-ordination and Conflict (The Case of the Leopard Tank)". International Affairs. London, United Kingdom: Royal Institute of International Affairs.
- Scales, Robert H. (1998). Certain Victory: The U.S. Army in the Gulf War. Washington DC, USA: Brassey's. ISBN 1-57488-136-1.
- Senger und Etterlin, Ferdinand von (1990). Tanks of the World – Taschenbuch der Panzer. Koblenz: Bernard & Graefe Verlag. ISBN 3-7637-5871-2.
- Spielberger, Walter (1980). Von der Zugmachine zum Leopard 2 – Geschichte der Wehrtechnik bei Krauss-Maffei (bằng tiếng Đức). München: Bernard & Graefe Verlag. ISBN 3-7637-5203-X.
- Westermeyer, Paul W. U.S. Marines in Battle: Al-Khafji, 28 January – 1 February 1991 (PDF). Washington D.C., United States of America: History Division, U.S. Marine Corps.
- Zaloga, Steven J. (1979). Modern Soviet Armor: Combat Vehicles of the USSR and Warsaw Pact Today. Edinburgh, United Kingdom: Prentice Hall. ISBN 0-13-597856-4.
- Zaloga, Steven J. (1999). The M47 and M48 Patton Tanks. Oxford, United Kingdom: Osprey. ISBN 1-85532-825-9.
- Zaloga, Steven J. (2004). T-54 and T-55 Main Battle Tanks 1944–2004. Oxford, United Kingdom: Osprey. ISBN 1-84176-792-1.